Thứ sáu, 14 Tháng 3 2025 15:08

  Bàn về việc xác định bị hại của vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Thực tế giải quyết các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản cho thấy đối với hành vi và thủ đoạn mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) của người khác rồi sửa chữa thông tin, thay đổi người có quyền sử dụng đất, sau đó dùng sổ đỏ thế chấp vay tiền Ngân hàng, thì việc xác định bị hại và tài sản bị chiếm đoạt còn có quan điểm nhận thức chưa thống nhất. Sau đây xin nêu một vụ án để cùng trao đổi:

Khoảng năm 2015, bà Nguyễn Thị H làm giúp việc thuê cho gia đình Trần Tố Ch. Khoảng tháng 9/2015, Ch hỏi mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H và bà H đồng ý. Theo Ch khai: bà H nhiều lần vay mượn tiền của Ch với tổng số tiền khoảng 200.000.000 đồng nhưng chưa trả nên Ch bảo bà H đưa sổ đỏ cho Ch giữ để bảo đảm cho số tiền bà H đã vay, còn bà H khai không được vay tiền của Ch mà chỉ cho Ch mượn sổ đỏ do tin tưởng. Ngoài ra, bà H còn đưa cho Ch một số giấy tờ cá nhân như: Giấy chứng minh nhân dân, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu để nhờ Ch làm giúp thủ tục chuyển hộ khẩu của gia đình. Sau đó, Trần Tố Ch cùng bà H đến Ủy ban nhân dân phường làm thủ tục chuyển hộ khẩu. Khi làm giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để thực hiện thủ tục chuyển hộ khẩu, Ch đã tự tay viết tờ khai đề nghị cấp giấy và nói với cán bộ mục đích là để tặng cho quyền sử dụng đất, việc này bà H không được biết, Ch nói với bà H là do hai người con của bà chưa đủ giấy tờ nên chưa thể chuyển hộ khẩu về địa chỉ mới được, mà chỉ chuyển hộ khẩu được cho bà H.

Sau đó, Trần Tố Ch thuê Phan Thị I cùng Ch đến Văn phòng Công chứng để ký các giấy tờ và Phan Thị I đưa ảnh thẻ của I cho Ch. Khi đến Văn phòng Công chứng, Ch bảo I là khi vào bên trong nếu ai hỏi thì bảo tên là H (tức là tên của bà Nguyễn Thị H) và ký vào các giấy tờ theo hướng dẫn của Ch. Đồng thời, Ch tự tay bóc ảnh trên CMND của bà Nguyễn Thị H và dán ảnh thẻ của bà I vào thay thế rồi bảo Phan Thị I vào Văn phòng Công chứng ký tên bà Nguyễn Thị H vào các giấy tờ, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giả mạo từ bà Nguyễn Thị H sang tên cho Trần Tố Ch. Sau khi thực hiện xong thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giả mạo, Trần Tố Ch đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất, ghi trong mục biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H chủ sử dụng đất là Trần Tố Ch.

Sau khi hoàn thành các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất giả mạo, Trần Tố Ch dùng sổ đỏ giả để thế chấp vay Ngân hàng với số tiền là 800.000.000 đồng. Số tiền vay này, Ch đã thanh toán trả Ngân hàng 428.000.000 đồng tiền gốc, số tiền còn nợ Ngân hàng không có khả năng trả là 820.131.367 đồng (trong đó: 372.000.000 đồng là tiền nợ gốc; 313.210.100 đồng tiền nợ lãi trong hạn và 134.921.267 đồng tiền lãi phạt quá hạn).

Đến khoảng tháng 11/2015, con trai bà H đòi Ch trả sổ đỏ nhưng do Ch đã thế chấp Ngân hàng nên không trả được, sau đó Ch viết giấy mượn sổ đỏ với bà Nguyễn Thị H. Đến năm 2023, bà Nguyễn Thị H đến cơ quan Công an tố giác hành vi chiếm giữ sổ đỏ của Trần Tố Ch.

Với nội dung vụ án như trên, có hai quan điểm về việc xác định bị hại của vụ án:

Quan điểm thứ nhất: Trần Tố Ch phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H, cần định giá quyền sử dụng đất của bà H để xác định trị giá tài sản chiếm đoạt, bởi vì: Trần Tố Ch sau khi mượn được sổ đỏ của bà H đã có thủ đoạn gian dối để thực hiện thủ tục công chứng, đăng ký quyền sử dụng đất từ bà H sang chủ sử dụng đất là Trần Tố Ch, do đó bà H là bị hại của vụ án.

Quan điểm thứ hai: Trần Tố Ch phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị hại của vụ án là Ngân hàng chứ không phải là bà Nguyễn Thị H, bà H có tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tác giả bài viết đồng ý với quan điểm thứ hai, bởi vì:  Tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 khái niệm về quyền tài sản như sau: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. Đồng thời, khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”. Như vậy, theo các quy định nêu trên thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất không được coi là tài sản hay nói cách khác, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là giấy tờ có giá và cũng không phải là quyền tài sản. Về vấn đề này, tại Công văn số 141/TANDTC-KHXX ngày 21/9/2011 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn có nội dung: “…các giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở…) không phải là “giấy tờ có giá".

Đối với vụ án nêu trên thấy rằng: Bà Nguyễn Thị H đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và một số giấy tờ cá nhân (Chứng minh thư, sổ hộ khẩu…) cho Trần Tố Ch là cho mượn do tin tưởng để Ch giúp làm thủ tục chuyển hộ khẩu. Sau đó Ch thuê Phan Thị I mạo danh bà Nguyễn Thị H cùng đến Văn phòng Công chứng để làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất theo sổ đỏ của bà H sang tên cho Ch. Tại Văn phòng Công chứng, Ch có thủ đoạn gian dối để làm thủ tục sang tên đối với thửa đất là: bóc ảnh của bà H trên chứng minh thư của bà H rồi dùng ảnh của I dán vào, sau đó I ký tên bà Nguyễn Thị H trên các hợp đồng, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng giả tạo này được Văn phòng đăng ký đất đai ghi tại mục biến động trên sổ đỏ của bà H là chuyển nhượng cho Ch. Sau đó, Ch mang sổ đỏ sang tên giả tạo này đi thế chấp vay tiền Ngân hàng và không có khả năng trả nợ.

Theo những quy định của pháp luật nêu trên thì Giấy chứng nhận quyền sử đất không phải là tài sản, không phải giấy tờ có giá, mà là "Chứng thư pháp lý" để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất; mặt khác, bà H giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ch là ngay tình, Ch không có thủ đoạn gian dối đối với bà H để chiếm đoạt Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, mà có thủ đoạn gian dối với Văn phòng Công chứng, với Văn phòng đăng ký đất đai để sang tên chủ sử dụng thửa đất từ bà H sang cho Ch, sau đó tiếp tục có thủ đoạn gian dối đối với Ngân hàng là dùng sổ đỏ sang tên giả tạo để thế chấp vay tiền Ngân hàng và chiếm đoạt. Như vậy, trong trường hợp này phải xác định Ngân hàng là bị hại thì mới chính xác và số tiền vay Ngân hàng không trả được là số tiền chiếm đoạt. Nếu xác định bà H là bị hại thì không thỏa mãn các dấu hiệu về tài sản và thủ đoạn gian dối của cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như phân tích ở trên.

Trên đây là một vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có quan điểm khác nhau về việc xác định bị hại và tài sản chiếm đoạt, xin được nêu ra để các đồng nghiệp và bạn đọc cùng nghiên cứu, trao đổi./.

Nguyễn Tuấn Anh - Phòng 7 VKSND tỉnh Lạng Sơn

664 Lượt đã xem