Thứ sáu, 22 Tháng 11 2024 06:33

Một số vấn đề cơ bản trong việc định tội danh và phân biệt giữa tội Giết người với tội Cố ý gây thương tích

Trong thời gian qua, các cơ quan tiến hành tố tụng gặp không ít khó khăn, vướng mắc, lúng túng trong việc xác định tội danh giết người hay tội cố ý gây thương tích khi giải quyết các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe, có một số vụ các cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện không thống nhất được về việc xác  định tội danh nên đã thỉnh thị cấp tỉnh; thực tế cho thấy có vụ án giết người cấp huyện khởi tố về tội cố ý gây thương tích không đúng phải thay đổi sang tội danh giết người và chuyển cấp tỉnh giải quyết, có vụ án cố ý gây thương tích cấp huyện khởi tố về tội Giết người rồi chuyển cấp tỉnh giải quyết, sau đó cấp tỉnh phải quyết định thay đổi sang tội Cố ý gây thương tích và chuyển lại cho cấp huyện. Nguyên nhân của những sai sót này là do nhận thức chưa đúng và đầy đủ những dấu hiệu, yếu tố đặc trưng để phân biệt hai tội này, chưa nắm chắc những văn bản hướng dẫn của cấp trên, bên cạnh đó còn có nguyên nhân là Án lệ số 47/2021 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc định tội danh giết người chưa phù hợp và đầy đủ.

Án lệ số 47/2021 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau: Bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng bụng của bị hại là vùng trọng yếu của cơ thể con người. Bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Trường hợp này, Tòa án phải xác định bị cáo chịu trách nhiệm hình sự về tội Giết người”. Án lệ số 47/2021 hướng dẫn như vậy là không đầy đủ và không phù hợp với thực tế giải quyết các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe mà bị hại không chết, vì không xem xét đến các yếu tố khác như về cường độ tấn công, hậu quả, thái độ của bị can, bị cáo đối với bị hại...; nếu theo Án lệ số 47/2021 thì sẽ quy nạp phần lớn các vụ các vụ án cố ý gây thương tích vào tội Giết người.

Chính vì sự bất cập của Án lệ số 47/2021 như nêu trên nên ngày 13/6/2023, Tòa án nhân dân tối cao có Công văn số 100/TANDTC-PC hướng dẫn áp dụng Án lệ số 47/2021 như sau: “…ngoài việc chứng minh bị cáo đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại thì cần phải xem xét, đánh giá toàn diện các tài liệu, chứng cứ của vụ án, các tình tiết thể hiện tính chất, mức độ của hành vi, cơ chế hình thành vết thương, sự quyết liệt trong thực hiện hành vi, vị trí cơ thể bị hại mà bị cáo có ý định tấn công để chứng minh ý thức chủ quan của bị cáo là cố ý thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho tính mạng của bị hại; hành vi của bị cáo thể hiện sự côn đồ, hung hãn, quyết liệt, coi thường tính mạng người khác; bị hại không chết là ngoài ý thức, mong muốn chủ quan của bị cáo. Do vậy, không phải trường hợp nào bị cáo có hành vi dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại cũng áp dụng Án lệ số 47/2021/AL, mà chỉ xem xét áp dụng án lệ này trong trường hợp hành vi của bị cáo có đầy đủ các yếu tố nêu trên để xác định bị cáo phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.”

Sau đây xin nêu 02 ví dụ để phân tích, đánh giá và xác định tội danh:

Ví dụ 1: A và B không có mâu thuẫn từ trước, do A xông vào định đánh bạn của B nên B đã cầm con dao có lưỡi dao dài 9,5cm, rộng 02 cm đâm 02 nhát vào vùng ngực sườn bên phải của A, trong đó có 01 nhát không xuyên thấu vào trong (chỉ xây xước ngoài da), còn 01 nhát xuyên thấu sâu 04 cm vào trong ngực và nhu mô gan (trong đó đâm vào nhu mô gan sâu 01cm). Sau khi bị đâm thì A vẫn tỉnh táo và B bỏ đi. Kết quả chụp Xquang và siêu âm kết luận trong ngực và ổ bụng của A không có dịch (không bị chảy máu). Kết luận giám định kết luận tỷ lệ thương tật của A là 37% (trong đó 31% là vết thương tại nhu mô gan, 6% còn lại là vết sẹo và vết mổ dẫn lưu).

Ví dụ 2: Do có mâu thuẫn và đánh nhau từ trước nên A mang theo một con dao nhọn cán bằng gỗ dài 66,5cm, bản rộng 5cm đến gặp B với mục đích đánh để trả thù. Khi A đến chỗ ở của B thì cả hai tiếp tục xảy ra xô xát, đánh nhau, A đã cầm con dao mang theo chém liên tiếp 02 nhát vào đầu của B, trong đó nhát đầu tiên chém từ trái sang phải, hướng từ dưới lên trên trúng vào vùng trán bên phải của B, nhát thứ hai chém ngang từ phải qua trái, trúng vào vùng chẩm trái của B. Theo Kết luận giám định xác định B bị thương tích và tỷ lệ tổn thương cơ thể như sau: Sẹo vùng trán phải lên tới sát chân tóc: 03%; Sẹo vùng chẩm trái: 02%; Tổn thương xương sọ, vỡ xương sọ vùng trán phải, bong bản trong xương chẩm lệch trái: 13%; Lún xương sọ vùng trán: 08%; Điện não đồ đã được điều trị ổn định: 01%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 25%.”

Đối với ví dụ 1 thấy rằng: mặc dù B dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng ngực của A là vùng trọng yếu trên cơ thể, nhưng cường độ tấn công không quyết liệt và lực tấn công không mạnh, thể hiện ở chỗ: mặc dù B đâm 02 nhát nhưng 01 nhát chỉ xây xước ngoài da, còn 01 nhát chỉ sâu 04cm (trong khi dao dài 9,5cm), hơn nữa hậu quả của nhát đâm này không gây chảy máu, không nguy hiểm đến tính mạng nếu không được cấp cứu kịp thời, mặt khác sau khi bị đâm thì A vẫn tỉnh táo và B bỏ đi, điều này cho thấy B không mong muốn tước đọat tính mạng của A, cũng không nhận thức được hậu quả nguy hiểm đến tính mạng của A do hành vi của mình gây ra. Vì vậy, hành vi của B phạm tội Cố ý gây thương tích, mà không phải tội Giết người.

Đối với ví dụ 2 thấy rằng: Do có mâu thuẫn và đánh nhau từ trước nên A mang theo một con dao nhọn cán bằng gỗ dài 66,5cm, bản rộng 5cm đến gặp B với mục đích đánh để trả thù. Trong lúc xô xát, A đã vung dao là hung khí nguy hiểm chém liên tiếp 2 phát với lực mạnh vào vùng đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại, làm cho bị hại bị vỡ xương hộp sọ vùng trán bên phải và vỡ xương hộp sọ vùng xương chẩm bên trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể theo kết luận giám định là 25%. Rõ ràng hành vi nêu trên của A thể hiện sự hung hãn, cường độ tấn công quyết liệt, hậu quả thương tích gây ra cho B là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp đe dọa tước đoạt tính mạng của B và có thể dẫn đến chết người nếu như không được cấp cứu kịp thời, việc bị hại không chết là ngoài mong muốn của bị cáo. Vì vậy, hành vi của A đã phạm tội Giết người, mà không phải tội Cố ý gây thương tích.

* Một số vấn đề cần lưu ý khi xác định tội danh:

- Đối với việc xác định tội danh giết người, thì ngoài việc xem xét các yếu tố như hung khí nguy hiểm, vị trí tấn công là vùng trọng yếu trên cơ thể, hành vi tấn công thể hiện sự côn đồ, hung hãn, quyết liệt, hậu quả thương tích…thì còn phải xem xét thái độ, hành vi của bị can, bị cáo đối với bị hại sau khi tấn công như thế nào; nếu sau khi tấn công mà bị can, bị cáo bỏ mặc bị hại đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, thì cho thấy bị can, bị cáo mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra và cần phải xác định tội danh là Giết người; còn nếu sau khi tấn công mà bị can, bị cáo có hành vi đưa bị hại đi cấp cứu, điều này cho thấy bị can, bị cáo không có mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra, trong trường hợp này có thể xem xét định tội danh Cố ý gây thương tích.

- Trong hầu hết các vụ án thì bị can, bị cáo đều khai là không có mong muốn giết người, tuy nhiên không thể căn cứ vào lời khai của bị can, bị cáo để xác định bị can, bị cáo không phạm tội Giết người, mà cần phải căn cứ vào các tình tiết, yếu tố như hung khí nguy hiểm, vị trí tấn công là vùng trọng yếu trên cơ thể, hành vi tấn công thể hiện sự côn đồ, hung hãn, quyết liệt, hậu quả thương tích, thái độ bỏ mặc bị hại trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng…để xác định bị can, bị cáo có mong muốn chết người, việc bị hại không chết là ngoài mong muốn của bị cáo, vì vậy trong trường hợp này phải định tội danh giết người mới chính xác.

- Đối với các vụ án bị hại không có thương tích hoặc thương tích nhẹ, nhưng hành vi của đối tượng thể hiện sự côn đồ, hung hãn, quyết liệt; đối tượng sử dụng hung khí nguy hiểm tấn công quyết liệt, liên tục, nhiều lần vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại, thể hiện ý thức mong muốn tước đoạt tính mạng của bị hại, nhưng do bị hại chống đỡ được nên không bị thương tích, hoặc thương tích nhẹ, thì cần xem xét xử lý về tội Giết người thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Ví dụ: A cầm kiếm chém mạnh nhiều phát vào vùng đầu của B, nhưng do B tránh được và cầm đồ vật che đỡ nên không bị chém trúng vào đầu, mặc dù B đã bỏ chạy nhưng A vẫn tiếp tục đuổi theo chém vào đầu của B nhưng không trúng, đến khi được mọi người can ngăn thì A mới dừng lại. Trong trường hợp này cho thấy hành vi của A thể hiện mong muốn tước đoạt tính mạng của B, vì vậy cần phải xử lý A về tội Giết người.

- Để xác định tội danh đúng thì cần xem xét, đánh giá về đặc điểm của hung khí và cách thức đối tượng sử dụng hung khí để tấn công bị hại, từ đó xác định ý thức của đối tượng có mong muốn giết người hay không, ví dụ: Nếu đối tượng dùng dao nhọn, sắc, nhẹ, mỏng đâm mạnh vào vùng ngực, bụng của bị hại thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng, thể hiện mong muốn chết người, vì vậy cần định tội danh là Giết người; nếu đối tượng dùng con dao này chém vào người, đầu của bị hại thì tính nguy hiểm đến tính mạng không cao, cho thấy đối tượng không muốn chết người, vì vậy cần định tội danh là Cố ý gây thương tích. Một ví dụ khác: nếu đối tượng sử dụng con dao loại to, nặng, mũi dao bằng (như dao dùng để chặt củi, chặt xương, dao quắm…) tấn công bị hại bằng cách chém mạnh vào đầu thì sẽ nguy hiểm cao đến tính mạng, thể hiện ý thức của đối tượng có mong muốn giết người, còn nếu đối tượng sử dụng con dao này đâm vào người bị hại thì tính nguy hiểm đến tính mạng không cao, vì vậy không phạm tội giết người.

- Một vấn đề nữa cần lưu ý, đó là: Cần phải làm rõ ý định của đối tượng có phải là tấn công vào vị trí trọng yếu trên cơ thể không, từ đó xác định ý thức của đối tượng có phải là mong muốn gây nguy hiểm cho tính mạng của bị hại hay không. Ví dụ: trong điều kiện ánh sáng và hoàn cảnh bình thường, cho thấy đối tượng quan sát rõ vị trí tấn công là vị trí trọng yếu trên cơ thể và có điều kiện để thực hiện hành vi tấn công, nếu đối tượng dùng dao nhọn đâm mạnh vào ngực của bị hại hoặc dùng dao loại to, nặng chém mạnh vào đầu của bị hại, thì xác định ý thức của đối tượng là mong muốn gây nguy hiểm cho tính mạng của bị hại; trong trường hợp hoàn cảnh vào ban đêm, không đảm bảo về ánh sáng để quan sát, khó xác định và khó thực hiện sự tấn công vào các vị trí theo ý định, đối tượng tấn công bị hại nhưng không có ý định tấn công vào vị trí nào trên cơ thể, thực tế sự tấn công của đối tượng trúng vào vị trí trọng yếu trên cơ thể của bị hại, trong trường hợp này có thể xem xét đối tượng không có mong muốn gây nguy hiểm đến tính mạng của bị hại.

- Vấn đề xác định lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tội danh, nếu đánh giá lỗi đúng thì xác định tội danh mới đúng và ngược lại, nếu đánh giá lỗi sai thì xác định tội danh sẽ sai. Đối với các vụ xâm phạm tính mạng, sức khỏe cần phải đánh giá, làm rõ đó là lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp, tuy nhiên trên thực tế cho thấy việc phân biệt hai lỗi này đối với các vụ án là không đơn giản, dễ nhầm lẫn do phải đánh giá nhận thức, ý thức của người phạm tội thông qua các tình tiết, diễn biến khách quan.

Đối với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội thấy trước được hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra và mong muốn hậu quả xảy ra; còn đối với lỗi cố ý gián tiếp thì người phạm tội chỉ có thể thấy trước hậu quả có thể xảy ra, người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra mà chỉ có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra, thái độ bỏ mặc này thể hiện thấy trước cả hai khả năng là hậu quả có thể xảy ra và khả năng hậu quả không xảy ra. Theo nhận thức cơ bản này thì đối với các vụ án mà bị can, bị cáo thực hiện hành vi có đầy đủ các dấu hiệu, yếu tố của tội Giết người như nêu ở phần trên, thì xác định là lỗi cố ý trực tiếp, vì người phạm tội thấy trước được hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra và mong muốn hậu quả xảy ra, việc bị hại không chết là ngoài mong muốn của bị can, bị cáo, hành vi phạm tội Giết người trong trường hợp này thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt (phạm tội chưa đạt chỉ được xem xét đối với hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp).

Đối với lỗi cố ý gián tiếp trong các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe trên thực tế việc nhận diện, phân biệt với lỗi cố ý trực tiếp là hết sức khó khăn, xin nêu ví dụ để chứng minh: Nhóm của A xô xát đánh nhau với nhóm của B trong điều kiện, hoàn cảnh là vào buổi tối, ánh sáng không rõ. A cầm dao xông vào mục đích đâm B nhưng do hỗn loạn và trời tối nên đã đâm trượt vào vùng trọng yếu trên cơ thể của C làm cho C bị thương tích. Trong trường hợp này cần xác định A phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp, bởi vì: mặc dù nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhưng A không có mục đích đâm C, càng không có ý định đâm vào vị trí trọng yếu trên cơ thể của C, như vậy A chỉ có thể nhận thức được hậu quả có thể xảy ra, A không muốn hậu quả xảy ra mà bỏ mặc cho hậu quả muốn ra sao thì ra. Trong lỗi cố ý gián tiếp thì hậu quả đến đâu xử lý đến đó, vì vậy A phạm tội Cố ý gây thương tích.

Một ví dụ khác về lỗi cố ý gián tiếp: Do có mâu thuẫn trong khi uống bia tại quán, nên A cầm chai bia ném vào người B đang ngồi ở bàn gần đó, chai bia đã trúng vào đầu của B làm cho B bị chấn thương sọ não và chết. Trong tình huống này, không có cơ sở để cho rằng A có ý định ném chai bia vào đầu của B là vị trị trọng yếu trên cơ thể, A chỉ có thể nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra, A không mong muốn hậu quả chết người nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra, vì vậy A phạm tội Giết người với lỗi cố ý gián tiếp.

Trên đây là quan điểm nhận thức của cá nhân trên cơ sở nghiên cứu và tổng kết thực tiễn về việc định tội danh và phân biệt giữa tội Giết người với tội Cố ý gây thương tích, để các đồng nghiệp và bạn đọc tham khảo và cùng trao đổi./.

                         Nguyễn Tuấn Anh - Phòng 7 Viện tỉnh

                                                             

1773 Lượt đã xem