Thứ sáu, 28 Tháng 6 2024 12:11

Một số giải pháp trong công tác kiểm sát cưỡng chế thi hành án dân sự liên quan đến đất đai

Trong những năm gần đây, các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại có đối tượng tranh chấp, tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất gia tăng, cùng với đó là việc gia tăng các vụ việc thi hành án dân sự liên quan đến đất đai. Những vụ việc này có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của người phải thi hành án và các thành viên khác trong hộ gia đình dẫn đến người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án, buộc Cơ quan Thi hành án dân sự phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế.

Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự liên quan đến đất đai gồm cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, nhà ở, cưỡng chế trả nhà, giao nhà, chuyển giao quyền sử dụng đất được quy định tại các Điều 71, 89, 94, 95, 111, 115, 117 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020, 2022 (sau đây gọi là Luật THADS). Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của người phải thi hành án, theo bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án.

Trên địa bàn huyện Hữu Lũng, hầu hết các vụ việc cưỡng chế đều có tính chất phức tạp, do người phải thi hành án không hợp tác, có thái độ chống đối, cản trở gây khó khăn cho Cơ quan Thi hành án khi thực hiện việc xác minh, vận động thi hành án. Trong thời gian từ năm 2020 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng thụ lý 143 vụ việc cưỡng chế thi hành án dân sự, trong đó số vụ việc cưỡng chế liên quan đến đất đai là 47 vụ việc, chiếm 32,86%, đã giải quyết 33 vụ việc, hiện còn đang giải quyết 17 vụ việc. Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng luôn quan tâm, chú trọng đến công tác kiểm sát thi hành án dân sự, phối hợp tốt với Chi cục Thi hành án dân sự trong công tác họp bàn, xác minh, vận động đối với các vụ việc cưỡng chế thi hành án liên quan đến đất đai.

Quá trình thực hiện chức năng kiểm sát, Kiểm sát viên đã chủ động lập hồ sơ, nghiên cứu, kiểm sát chặt chẽ các quyết định về thi hành án, việc giao quyết định, thông báo cho đương sự và các tài liệu do cơ quan thi hành án thu thập như các biên bản xác minh điều kiện thi hành án; xác định ranh giới, mốc giới, vị trí thửa đất; tài sản trên đất; diện tích các thửa đất thực tế so với bản án đã tuyên... đảm bảo đúng quy định của Luật Thi hành án dân sự, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ giúp cho việc cưỡng chế đạt kết quả.

Từ thực tiễn hoạt động kiểm sát của đơn vị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng nhận thấy còn một số khó khăn, bất cập trong công tác cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và nhà ở, tài sản gắn liền với đất, cưỡng chế giao nhà, chuyển giao quyền sử dụng đất như sau:

1. Đối với việc kê biên quyền sử dụng đất và nhà ở, tài sản gắn liền với đất của người phải thi hành án nằm trong khối tài sản chung.

Pháp luật về THADS chưa có hướng dẫn cụ thể về việc kê biên tài sản nào trong khối tài sản chung của người phải thi hành án sau khi có quyết định xác định, phân chia phần quyền sở hữu, sử dụng của Tòa án. Trường hợp khối tài sản chung lớn, gồm nhiều thửa đất ở các vị trí khác nhau, nếu thực hiện việc kê biên, bán đấu giá toàn bộ tài sản chung của hộ gia đình sau đó xác định phần giá trị tài sản của người phải thi hành án được hưởng sẽ dẫn đến chi phí kê biên, bán đấu giá tài sản tăng, gây bất lợi cho người phải thi hành án và những người liên quan, đồng thời việc kê biên cũng gặp nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian.

Ví dụ: vụ việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với ông Vi Văn T ở xã Đồng Tiến, tài sản kê biên bao gồm 11 thửa đất ở các vị trí khác nhau, trong đó 01 thửa có cả công trình, nhà ở trên đất.

- Một số trường hợp tài sản kê kiên là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có một phần thuộc diện đất quy hoạch theo dự án của địa phương nhưng chưa có quyết định thu hồi, Cơ quan Thi hành án dân sự phải đợi kết quả giải quyết của cơ quan có thẩm quyền về việc thu hồi để làm căn cứ thực hiện cưỡng chế kê biên.

Ví dụ: vụ việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với người phải thi hành án bà Trần Thị P ở thị trấn Hữu Lũng, một phần diện tích đất và nhà ở trên đất là tài sản kê biên đã được UBND thị trấn đưa vào quy hoạch.

2. Việc cưỡng chế giao nhà, chuyển giao quyền sử dụng đất

Theo quy định tại khoản 5 Điều 115 Luật THADS thì trường hợp nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà trọ…Chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà…tuy nhiên, pháp luật không quy định rõ việc Chấp hành viên giao số tiền được trích lại cho người phải thi hành án như thế nào. Trong một số vụ việc, người phải thi hành án chây ỳ, cố tình không thi hành theo quyết định cưỡng chế dẫn đến không thực hiện được việc giao tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở trên đất cho người mua được tài sản trúng đấu giá.

Ví dụ: vụ việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với người phải thi hành án cụ Trần Thị T ở thị trấn Hữu Lũng. Sau khi người mua được tài sản nộp đủ tiền, Cơ quan Thi hành án dân sự đã có văn bản thông báo nhưng người phải thi hành án vẫn cố tình chây ỳ, không giao tài sản nên khó thực hiện được việc giao tài sản cho người mua được tài sản trúng đấu giá.

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện Chi cục THADS huyện đã chú trọng đến công tác vận động, thuyết phục đối với người phải thi hành án và những người liên quan, tuy nhiên hầu hết đều không hợp tác, có thái độ chống đối quá trình tổ chức thi hành án.

Với thực trạng như trên, để công tác kiểm sát cưỡng chế thi hành án dân sự liên quan đến đất đai đạt hiệu quả, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng đưa ra một số giải pháp như sau:

Một là: Lãnh đạo đơn vị cần sát sao trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quan tâm, bố trí cán bộ, Kiểm sát viên đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong khâu công tác kiểm sát thi hành án dân sự. Tăng cường kiểm tra đối với cán bộ, Kiểm sát viên thực hiện công tác chuyên môn này nhằm thực hiện tốt các chỉ tiêu đã đề ra.

Định kỳ đánh giá kết quả, chất lượng công việc, những hạn chế cần khắc phục để biểu dương những kết quả đạt được, đồng thời xem xét, tìm ra nguyên nhân để chỉ đạo cán bộ, Kiểm sát viên khắc phục hạn chế, nâng cao chất lượng công tác chuyên môn. Kịp thời phổ biến, quán triệt các văn bản hướng dẫn, các chỉ đạo của cấp trên về chuyên môn nghiệp vụ liên quan đến công tác kiểm sát thi hành án dân sự.

Hai là: Mỗi cán bộ, Kiểm sát viên được phân công kiểm sát thi hành án dân sự cần nhận thức, đánh giá đúng tầm quan trọng của công tác này nói chung và hoạt động kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án nói riêng, nhất là các vụ việc cưỡng chế liên quan đến quyền sử dụng đất và nhà ở, tài sản gắn liền với đất, từ đó nâng cao hiệu quả, chất lượng đáp ứng yêu cầu của ngành đề ra. Kiểm sát viên cần phải nắm vững chức năng, quyền hạn của Ngành trong hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự. Chủ động nghiên cứu, cập nhật các quy định pháp luật về Thi hành án dân sự, và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến Thi hành án dân sự như: Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hôn nhân và gia đình… Thực hiện việc kiểm sát, nghiên cứu chặt chẽ hồ sơ thi hành án, nhận diện và kịp thời phát hiện được các dạng vi phạm thường xảy ra trong hoạt động tổ chức thi hành án của Chấp hành viên và Cơ quan Thi hành án dân sự trong hoạt động cưỡng chế liên quan đến quyền sử dụng đất, từ đó tham mưu lãnh đạo kịp thời thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự và cơ quan có liên quan khắc phục.

Ba là: Tăng cường công tác phối hợp liên ngành giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan trong công tác cưỡng chế liên quan đến quyền sử dụng đất để thi hành án, đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đặc biệt đối với những vụ việc phức tạp, khó khăn, kéo dài cần có sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc tham mưu, xin ý kiến của Trưởng Ban Chỉ đạo Thi hành án dân sự trong công tác tổ chức thi hành án và xem đây là nhiệm vụ quan trọng của hệ thống chính trị ở địa phương.

Bốn là: Làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, động viên, thuyết phục bằng nhiều hình thức đối với người phải thi hành án. Kiểm sát viên, Chấp hành viên và lãnh đạo chính quyền địa phương cùng phối hợp để tuyên truyền, giải thích, vận động người phải thi hành án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhận thức đúng đắn sự việc, chấp hành nghiêm quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của đương sự, giúp cho việc thi hành án thuận lợi.

Năm là: Thông qua công tác kiểm sát hoạt động cưỡng chế thi hành án, Kiểm sát viên phải tổng hợp những vướng mắc, bất cập đã phát hiện, kịp thời báo cáo lãnh đạo cho ý kiến chỉ đạo, báo cáo thỉnh thị cấp trên đối với từng vụ việc cụ thể nhằm đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, đúng pháp luật.

Kiến nghị: Qua thực tiễn công tác, phát hiện những bất cập trong quy định của luật, nhiều quy định chồng chéo, chưa rõ ràng hoặc nhiều nội dung chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh để đề nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn kịp thời.

Trên đây là một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát cưỡng chế thi hành án dân sự liên quan đến đất đai của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, rất mong nhận được sự góp ý của các quý độc giả./.

Nguyễn Thị Hương - VKSND huyện Hữu Lũng

108 Lượt đã xem