VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Lạng Sơn 0 Lạng Sơn 1 Lạng Sơn 2 Lạng Sơn 5 Lạng Sơn 7

NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT

Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và vấn đề xung đột pháp luật

Cập nhật: 20-09-2021 | NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT | Lượt xem: 244

Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định tại Điều 197, Bộ luật Hình sự năm 2015 kế thừa và quy định tại Điều 255; các dấu hiệu đặc trưng cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 197 BLHS năm 1999 so với Điều 255 BLHS năm 2015 là giống nhau, trước khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành thì việc áp dụng pháp luật để xử lý tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không có nhiều vướng mắc, nhưng từ khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành thì việc áp dụng pháp luật để xử lý tội phạm này có nhiều khó khăn, vướng mắc do các văn bản hướng dẫn đơn ngành xung đột với các văn bản hướng dẫn trước đó. Từ thực tế này đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu, đánh giá về tính phù hợp, đúng đắn, đảm bảo giá trị pháp lý của các văn bản hướng dẫn để việc xử lý tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đảm bảo có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Trên cơ sở góc độ nghiên cứu của cá nhân, tôi xin được trao đổi về vấn đề này như sau:

Về các văn bản hướng dẫn việc xử lý tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bao gồm:

Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sau đây viết là Thông tư số 17) hướng dẫn như sau:

“6.1. “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây:
a) Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác;
b) Chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy.
6.2. Khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cần phân biệt:
a) Người nghiện ma túy có chất ma túy (không phân biệt nguồn gốc ma túy do đâu mà có) cho người nghiện ma túy khác chất ma túy để cùng sử dụng trái phép thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mà tùy từng trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc tội sử dụng trái phép chất ma túy”.

Công văn số 03/VKS ngày 03/01/2000 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, về việc hướng dẫn thống nhất đường lối xử lý một số trường hợp cụ thể thuộc các tội phạm về ma túy, có nội dung như sau: “Đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì cần phải xác định được bản chất của sự việc, đó là việc tổ chức sử dụng ma túy hay chỉ là những người nghiện ma túy tụ tập với nhau sử dụng trái phép chất ma túy; đối với những người nghiện ma túy có quan hệ quen biết tụ tập nhau để sử dụng ma túy…thì không phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tại Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau: “…Còn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy. Trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng có đồng phạm nhưng đồng phạm ở đây được hiểu là thực hiện theo sự chỉ huy, phân công điều hành (không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, không bắt buộc phải có sự phân công, chỉ đạo, điều hành chặt chẽ trong các đồng phạm). Do đó, hành vi cung cấp ma túy cho người khác sử dụng là một trong các hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Người có hành vi này bị xử lý theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự”.

Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau: “Theo Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30-6-2020 của Tòa án nhân dân tối cao về giải đáp nghiệp vụ thì: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ... để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Trong trường hợp này, A là người cung cấp ma túy cho B, C, D để họ thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy (tất cả đều là người nghiện ma túy). Hành vi cung cấp ma túy cho người khác sử dụng là một trong các hành vi “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự”.

Tại cuốn giải đáp vướng mắc về pháp luật và giải quyết các vụ án về tội phạm ma túy năm 2019 – 2020 của Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn như sau: “…bất kể người nào đủ năng lực trách nhiệm hình sự có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đều là chủ thể của tội phạm, không loại trừ trường hợp đó là người nghiện ma túy…người nghiện ma túy có hành vi cung cấp chất ma túy cho người nghiện ma túy khác sử dụng tại địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” .

Với những văn bản hướng dẫn về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nêu trên có thể thấy rằng:

Các dấu hiệu đặc trưng cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 197 BLHS năm 1999 so với Điều 255 BLHS năm 2015 là giống nhau, sau khi Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực thì chưa có văn bản nào thay thế, hủy bỏ Thông tư số 17, chỉ có Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 bãi bỏ các hướng dẫn tại điểm đ tiết 3.7 mục 3 Phần II; điểm b tiết 7.3 mục 7 Phần II; mục 8 Phần II của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT (không bãi bỏ hướng dẫn về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy), vì vậy Thông tư số 17 vẫn có giá trị vận dụng những quy định hướng dẫn phù hợp và không trái Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định đối với tội phạm về ma túy.

Theo Thông tư số 17 thì người thực hiện hành vi phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy phải thực hiện một trong các hành vi sau đây: Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; Chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy. Người đồng phạm là người thực hiện các hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác, chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác. Đối với những người nghiện ma túy cho nhau chất ma túy để cùng nhau sử dụng thì không phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy, nếu một người chỉ có hành vi cho người khác ma túy để sử dụng mà không theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác, kể cả trong trường hợp những người này là người nghiện và trường hợp không phải là người nghiện, thì không phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Tuy nhiên, theo các văn bản giải đáp nêu trên của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì một người có hành vi cung cấp ma túy cho người khác sử dụng, kể cả trong trường hợp những người này đều là những người nghiện ma túy, thì đã phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Theo những hướng dẫn này thì không cần thỏa mãn dấu hiệu chỉ huy, phân công, điều hành hoặc là người đồng phạm thực hiện hành vi cung cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác và không loại trừ trách nhiệm hình sự đối với những người nghiện ma túy. Rõ ràng, những văn bản giải đáp nêu trên vận dụng tinh thần của Thông tư số 17 nhưng nội dung giải đáp lại mâu thuẫn và trái ngược hoàn toàn với Thông tư số 17, không đúng với bản chất và những dấu hiệu cấu thành đặc trưng của tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Điều này làm phát sinh xung đột pháp luật trong việc áp dụng pháp luật để xử lý tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Trong trường hợp có xung đột pháp luật như nêu ở trên, theo quan điểm của tác giả bài viết thì vẫn phải vận dụng tinh thần hướng dẫn của Thông tư 17 để xử lý đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bởi vì:

Thông tư số 17 có giá trị pháp lý cao hơn các văn bản giải đáp đơn ngành, hơn nữa các văn bản giải đáp đơn ngành chỉ có giá trị hướng dẫn trong nội bộ một ngành mà không có tính bắt buộc phải áp dụng đối với các ngành khác; các văn bản hướng dẫn đơn ngành được xem xét vận dụng trong trường hợp phù hợp với hướng dẫn của các văn bản có giá trị pháp lý cao hơn hoặc trong trường hợp không có văn bản hướng dẫn có trị pháp lý cao hơn nhưng có giá trị giải quyết được khó khăn, vướng mắc của thực tiễn đang được đặt ra.

Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, nhưng đến nay còn có nhiều Điều luật chưa có hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc được Liên ngành tư pháp Trung ương thống nhất hướng dẫn thi hành, vì vậy để tháo gỡ vướng mắc của thực tiễn áp dụng pháp luật thì các ngành có các văn bản hướng dẫn, giải đáp, điều này đã kịp thời tháo gỡ khó khăn cho cấp cơ sở, tuy nhiên cũng còn có văn bản hoặc vấn đề giải đáp, hướng dẫn chưa phù hợp, dẫn đến xung đột pháp luật và việc giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là một trường hợp như vậy. Có thể nhận thấy, nếu theo các văn bản giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thì ở một góc độ nào đó đã hình sự hóa hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của những người nghiện ma túy, đồng thời không thỏa mãn các dấu hiệu đặc trưng của tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 197 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 kế thừa toàn bộ, không thay đổi. Điều này đặt ra yêu cầu Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc Liên ngành tư pháp Trung ương cần kịp thời hướng dẫn để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật./.

Nguyễn Tuấn Anh – Phòng 2 Viện tỉnh



THÔNG BÁO

hỗ trợ & tư vấn

Văn phòng tổng hợp

Hotline: 02053.815.126

Bản đồ trung tâm

Lịch tiếp dân

bộ đếm truy cập


Đầu trang