VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Lạng Sơn 0 Lạng Sơn 1 Lạng Sơn 2 Lạng Sơn 5 Lạng Sơn 7

Kiểm sát viên viết

Công tác Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra trong Luật Tổ chức VKSND 2014

Cập nhật: 07-10-2015 | Kiểm sát viên viết | Lượt xem: 6421

   Chức năng thực hành quyền công tố của Viện Kiểm sát nhân dân theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 được tiến hành ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cho đến hết giai đoạn xét xử vụ án hình sự. Trong phạm vi bài viết này, với tư cách là một Kiểm sát viên, tôi xin được khái quát, mô phỏng hoạt động thực hành quyền công tố việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và trong giai đoạn điều tra giải quyết vụ án hình sự, theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 với các bước tiến hành của nó, tham chiếu đến Bộ luật tố tụng hình sự để các đồng nghiệp tham khảo.

Các bước tiến hành của công tác thực hành quyền công tố theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 (Khoản 1 Điều 6) bao gồm các vấn đề sau:

I. THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ:

- Phân công kiểm sát viên tiến hành tố tụng.

- Đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh (khi thấy cần thiết).

- Kiểm sát viên được trực tiếp tiến hành các hoạt động kiểm tra xác minh (nếu phát hiện Cơ quan điều tra vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc bỏ lọt tội phạm trong quá trình kiểm tra, xác minh).

- Xác định tính có căn cứ của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của Cơ quan điều tra (hủy bỏ, phê chuẩn, gia hạn); các biện pháp ngăn chặn như: Bắt khẩn cấp, tạm giữ của Cơ quan Điều tra.

II. THỰC HIỆN QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA:

- Giai đoạn này được xác định từ khi có Quyết định khởi tố đến kết thúc điều tra của Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

- Hoạt động của Viện kiểm sát trong giai đoạn này bao gồm:

+ Yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự (nếu có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm khác).

Nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát trực tiếp ra Quyết định thay đổi hoặc bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 106 BLTTHS

+ Hủy bỏ các Quyết định khởi tố, Quyết định thay đổi hoặc bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định không khởi tố vụ án hình sự (căn cứ Điều 100 và Điều 107 BLTTHS).

+ Quyết định khởi tố vụ án:

Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 14 Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân 2014 quy định: Viện Kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án trong các trường hợp sau:

▪ Khi hủy bỏ Quyết định không khởi tố của Cơ quan điều tra.

▪ Khi Hội đồng xét xử yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án.

▪ Khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trọng việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu vi phạm.

+ Phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ Quyết định khởi tố bị can (trong thời hạn 3 ngày).

+ Yêu cầu khởi tố bị can bằng văn bản (nếu thấy ngoài bị can bị khởi tố còn có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa được khởi tố).

+ Khởi tố bị can: Viện kiểm sát chỉ ra Quyết định khởi tố bị can sau khi nhận hồ sơ và bản kết luận điều tra mà phát hiện có người khác thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa được khởi tố (Khoản 5 Điều 126 BLTTHS). Nếu bị can còn có hành vi phạm tội khác mà hành vi đó chưa được khởi tố vụ án hình sự thì Viện kiểm sát phải ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự trước khi ra Quyết định khởi tố bị can. Nếu cần khởi tố bổ sung một tội chưa được khởi tố vụ án hình sự thì phải Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự trước khi bổ sung quyết định khởi tố bị can.

+ Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội, yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can.

+ Tiến hành các hoạt động điều tra khi: có yêu cầu của Cơ quan điều tra; bị can kêu oan; lời khai của bị can trước sau không thống nhất; bị can có khiếu nại về hoạt động điều tra; có căn cứ để nghi ngờ tính xác thực của lời khai, Viện kiểm sát có thể trực tiếp gặp hỏi cung khi bị can bị khởi tốvề hành vi phạm tội phạm phức tạp, đặc biệt nghiêm trọng; chứng cứ, tài liệu có mâu thuẫn; Viện kiểm sát có thể lấy lời khai của những người tham gia tố tụng khác nhau.

Kiểm sát viên chỉ tiến hành đối chất trong trường hợp có yêu cầu của Cơ quan điều tra hoặc thấy việc đối chất của Điều tra viên chưa làm rõ được mâu thuẫn.

+ Phê chuẩn, không phê chuẩn việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của Cơ quan điều tra (Khoản 4, Điều 112 BLTTHS và khoản 5 Điều 14 Luật Tổ chức VKSND 2014).

+ Phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc hủy bỏ các quyết định tố tụng khác của Cơ quan điều tra (Lệnh khám xét, Quyết định thu giữ thư, điện tín...).

+ Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam (Điều 120 BLTTHS), chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Trên đây là những mô phỏng trên cơ sở nhận thức Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân 2014 và Bộ luật Tố tụng Hình sự, mong được các đồng nghiệp cùng trao đổi.

Kiểm sát viên: Trịnh Ngọc Chính 



THÔNG BÁO

hỗ trợ & tư vấn

Văn phòng tổng hợp

Hotline: 02053.815.126

Bản đồ trung tâm

Lịch tiếp dân

bộ đếm truy cập


Đầu trang