VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Lạng Sơn 0 Lạng Sơn 1 Lạng Sơn 2 Lạng Sơn 5 Lạng Sơn 7

Kiểm sát viên viết

Nhận dạng về một số vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực Tín dụng - Ngân hàng – Đề xuất, kiến nghị

Cập nhật: 08-10-2014 | Kiểm sát viên viết | Lượt xem: 7866

   Theo số liệu của Cơ quan điều tra trên toàn quốc, dù chỉ chiếm 0,22% trong tổng số các vụ phạm tội nhưng mức độ thiệt hại của các vụ án trong lĩnh vực Tín dụng-Ngân hàng lại chiếm tới 60%. Điều này không chỉ gây thiệt hại trực tiếp tới lợi nhuận của ngành Ngân hàng mà còn gây ra nhiều hậu quả kinh tế rất nghiêm trọng. mặc dù Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp ngăn chặn, xử lý nhưng loại hình tội phạm này vẫn diễn biến phức tạp và ngày càng tinh vi hơn. Trong bài này đề cập 06 nội dung để bạn đọc tham khảo như sau:

   I. CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC TÍN DỤNG - NGÂN HÀNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

    Tại tỉnh Lạng Sơn, từ năm 2009 đến năm 2013 đã phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử 02 vụ án hình sự có liên quan đến lĩnh vực tín dụng - ngân hàng. Cụ thể là:

    1. Vụ Trịnh Xuân Hòa, là nhân viên hợp đồng với chức danh thủ quỹ tại Phòng dịch vụ khách hàng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam (TECHCOMBANK) thuộc Chi nhánh Lạng Sơn. Lợi dụng sự kiểm soát lỏng lẻo của Ban quản lý kho quỹ, từ đầu tháng 9/2010 đến ngày 25/02/2011, Trịnh Xuân Hòa đã liên tục có hành vi gian dối, chiếm đoạt tiền quỹ của Ngân hàng TECHCOMBANK Chi nhánh Lạng Sơn, với tổng số tiền là 4.000.000.000đ (Bốn tỷ đồng) và dùng số tiền này vào việc đánh bạc dưới hình thức lô, đề, không có khả năng khắc phục hậu quả. Trịnh Xuân Hòa đã bị khởi tố, điều tra về tội danh: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo điều 140 Bộ luật hình sự.

    2. Vụ Hoàng Dương Quỳnh, là nhân viên hợp đồng của Bưu điện huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, được giao nhiệm vụ là giao dịch viên dịch vụ tiết kiệm bưu điện (có trách nhiệm làm thủ tục nhận, chi trả cho khách hàng đến gửi, rút tiền tiết kiệm, quản lý tiền mặt tại quầy, thanh quyết toán chứng từ, tiền mặt với kế toán và thủ quỹ vào cuối ngày giao dịch). Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, tháng 6/2010 Hoàng Dương Quỳnh đã nhiều lần dùng thủ đoạn giả mạo chữ viết, chữ ký trên phiếu xuất tiền, sửa chữa phiếu gửi tiền của khách hàng để chiếm đoạt tiền dịch vụ tiết kiệm bưu điện do mình trực tiếp quản lý, với tổng số tiền là 400.842.228đ (Bốn trăm triệu, tám trăm bốn mươi hai ngàn, hai trăm hai mươi tám đồng). Ngoài ra, Hoàng Dương Quỳnh còn có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (tiền) của khách hàng đến gửi tiết kiệm, với số tiền là 175.000.000đ (Một trăm bảy mươi lăm triệu đồng). Hoàng Dương Quỳnh đã bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về 02 tội: Tham ô tài sản, theo điều 278 Bộ luật hình sự và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo Điều 140 Bộ luật hình sự.

   II. CÁC DẠNG VI PHẠM CHỦ YẾU CỦA CÁN BỘ TÍN DỤNG - NGÂN HÀNG QUA CÁC VỤ ÁN Ở TỈNH LẠNG SƠN

    1. Che giấu số liệu thực về tổng số tiền trong bảng kê kiểm quỹ hàng ngày để chiếm đoạt tiền của ngân hàng.

    2. Cán bộ tín dụng lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao để nhận tiền gửi tiết kiệm của khách hàng rồi phát hành phiếu gửi tiền (TK1), thẻ gốc (TK2) và thẻ tiết kiệm (TK3) với đầy đủ chữ ký, rồi cố ý giao thẻ TK3 cho khách hàng khi chưa đủ thủ tục và không nhập số tiền gửi của khách hàng vào hệ thống để chiếm đoạt số tiền này của khách hàng.

    III. CÁC THỦ ĐOẠN PHẠM TỘI PHỔ BIẾN TRONG LĨNH VỰC TÍN DỤNG - NGÂN HÀNG

    1. Cán bộ tín dụng dùng thủ đoạn giả mạo chữ ký, chữ viết trên phiếu rút tiền, sửa chữa phiếu tiền gửi của khách hàng từ trị giá tiền gửi lớn thành trị giá tiền gửi nhỏ hàng chục lần để chiếm đoạt.

     2. Cán bộ ngân hàng (quản lý kho quỹ) đã che giấu số hiện thực về tổng số tiền trong bảng kê kiểm quỹ hàng ngày, vượt qua sự kiểm soát của hệ thống nghiệp vụ ngân hàng để rút tiền chiếm đoạt tiền quỹ của ngân hàng.

    IV. NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC TÍN DỤNG, NGÂN HÀNG

    1. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, cùng với sự ra đời của các loại hình doanh nghiệp là các ngân hàng, tổ chức tín dụng được thành lập với nhiều thành phần kinh tế khác nhau (Nhà nước, tư nhân, liên doanh) đã làm thay đổi cơ bản về các quan hệ kinh tế, xã hội trong môi trường phát triển và cơ chế quản lý mới. Tuy vậy, đến nay chưa có văn bản nào của cấp có thẩm quyền hướng dẫn vấn đề xử lý tội phạm liên quan đến các chủ thể mới này, dẫn đến nhận thức khác nhau trong xác định tội danh trong các vụ án có yếu tố chiếm đoạt trong các loại hình doanh nghiệp, trong đó có các loại hình ngân hàng và tổ chức tín dụng, Điều 179 Bộ luật hình sự quy định tội phạm cho vay trong các tổ chức tín dụng nếu gây hậu quả nghiêm trọng nhưng đến nay chưa có văn bản nào hướng dẫn như thế nào là gây hậu quả nghiêm trọng. Chính việc thiếu các quy định của pháp luật điều chỉnh, hướng dẫn việc xử lý, giải quyết các hành vi vi phạm của lĩnh vực này làm cho các cơ quan tố tụng lúng túng trong phát hiện, điều tra, xử lý, dẫn đến hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tín dụng - ngân hàng hiệu quả không cao.

    2. Lĩnh vực tín dụng - ngân hàng rất phức tạp, hành vi vi phạm và tội phạm được thực hiện rất tinh vi, có sử dụng công nghệ cao nên việc phát hiện và xử lý rất khó khăn.

    V. NHỮNG ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI NHỮNG VỤ ÁN HÌNH SỰ LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC TÍN DỤNG - NGÂN HÀNG

    Ngoài những giải pháp chung để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, chúng tôi có những đề xuất, kiến nghị riêng đối với việc đảm bảo xử lý có hiệu quả các vụ án hình sự liên quan đến lĩnh vực tín dụng - ngân hàng như sau:

    1. Cần có văn bản liên ngành hướng dẫn, thống nhất đường lối xử lý tội phạm về tín dụng-ngân hàng để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc đã đề cập ở trên.

    2. Cần tổng kết chuyên đề rút kinh nghiệm từ hệ thống các vụ, việc liên quan đến tín dụng - ngân hàng, để rút kinh nghiệm trong toàn ngành. Quan tâm đến công tác giảng dạy, tập huấn về đấu tranh, xử lý các tội phạm liên quan đến lĩnh vực tài chính - ngân hàng.

    VI. NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỂ CHẤN CHỈNH, KHẮC PHỤC CƠ CHẾ QUẢN LÝ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG

    Việc xử lý nợ xấu hiệu quả tại các ngân hàng đòi hỏi sự nỗ lực, cố gắng và quyết tâm cao hơn nữa của cả hệ thống chính trị, các bộ ngành có liên quan, cộng đồng doanh nghiệp và các ngân hàng. Tuy nhiên, hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể việc thụ lý, giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến hoạt động ngân hàng, tín dụng, đồng thời chưa có hướng dẫn cụ thể để bảo đảm quyền khởi kiện của ngân hàng theo quy định tại điểm 8.6 mục 8 Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Ở đây cần xác định rõ ranh giới giữa vụ án hình sự và vụ việc dân sự trong các vấn đề quan hệ tín dụng có liên quan đến nợ xấu để bảo đảm việc xử lý, tháo gỡ lúng túng trong việc phát hiện, xử lý. Từ những vấn đề đó chúng tôi kiến nghị:

    1. Cần phải có cơ chế bảo đảm có sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra - Viện kiểm sát - Tòa án - Ngân hàng Nhà nước để hỗ trợ các ngân hàng trong việc thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm để thụ nợ. Các cơ quan cần phải coi công việc này là trách nhiệm và nhiệm vụ của mình khi nhận được đề nghị của ngân hàng.

    Để có đủ căn cứ pháp lý trong xử lý nợ của Ngân hàng (cả về hình sự và dân sự) cần sớm ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn xử lý tài sản bảo đảm theo Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ.

    2. Về vấn đề “Quy định” bị vi phạm trong các hoạt động cho vay của ngân hàng

    Quy định bị vi phạm chung nhất là các quy định của Nhà nước về chế độ, chính sách kinh tế, tài chính ngân hàng của Đảng, Nhà nước; các quy định liên quan trực tiếp khác như Bộ luật Dân sự, Nghị định về giao dịch bảo đảm và các văn bản hướng dẫn trực tiếp về hoạt động cho vay của các cơ quan Nhà nước liên quan khác như Ngân hàng Nhà nước, Bộ tư pháp, Bộ Tài chính... Quy định bị vi phạm trực tiếp là những quy định trong Quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành trong từng thời kỳ.

    Quy chế cho vay đang được các ngân hàng áp dụng là Quy chế cho vay được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005. Căn cứ Quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các ngân hàng thương mại trên cơ sở chính sách phát triển, tình hình vốn điều lệ, hoạt động kinh doanh cụ thể của ngân hàng mình để xây dựng quy trình, quy định, quy chế, hướng dẫn cho vay phù hợp từng thời kỳ.

    Quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không quy định hoặc chưa quy định cụ thể, chi tiết về một hoạt động, một hành vi hay thủ tục nào đó về hoạt động cho vay nhưng các ngân hàng thương mại lại quy định cụ thể, chi tiết trong quy trình, quy định, quy chế, hướng dẫn cho vay của nội bộ ngân hàng mình thì khi cán bộ nhân viên vi phạm những quy định này và gây thiệt hại đến tài sản của ngân hàng thì có cho phép cơ quan tố tụng lấy những quy định nội bộ ngân hàng đó làm cơ cở xác định trách nhiệm hình sự hay không.

    Trong trường hợp này ngân hàng vi phạm quy định nội bộ chứ không phải vi phạm quy định của pháp luật các cơ quan tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự cán bộ ngân hàng vi phạm chưa có đủ cơ sở pháp lý.

    Đây có thể là một “khoảng trống” mà các cơ quan có thẩm quyền đặc biệt Ngân hàng Nhà nước cần xây dựng “hành lang pháp lý” bằng các quy định rõ ràng, cụ thể, bảo đảm việc các cơ quan tố tụng quy buộc trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, tránh oan sai khi xử lý các hành vi phạm tội.

    3. Hành vi phạm vào tội quy định tại Điều 179 Bộ luật hình sự năm 1999 được quy định cụ thể và trực tiếp là: Cho vay không có bảo đảm trái quy định của pháp luật; Cho vay quá giới hạn quy định; Hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về cho vay trong hoạt động tín dụng.

    a) Đối với hành vi cho vay không có bảo đảm trái quy định của pháp luật

    Trước đây, theo quy định tại Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 của Chính phủ về bảo đảm bằng tài sản được quy định cụ thể và chi tiết về các trường hợp áp dụng, điều kiện áp dụng và việc thực hiện cho vay theo quan điểm hạn chế hoặc theo những trường hợp cho vay không có tài sản bảo đảm theo chỉ định của Chính phủ.

    Theo đó, hành vi cho vay không có bảo đảm trái quy định pháp luật sẽ được hiểu là những trường hợp cán bộ nhân viên ngân hàng quyết định cho vay không phù hợp hoặc không đáp ứng đầy đủ các điều kiện cụ thể như cho vay đối với các khách hàng không có tín nhiệm; phương án đầu tư hoặc sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không khả thi, không hiệu quả; không có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc cho doanh nghiệp vay nhưng không đáp ứng điều kiện cho vay như phải kinh doanh có lãi trong hai năm liền kề với thời điểm xem xét cho vay gây hậu quả nghiêm trọng thì từng trường hợp cụ thể có thể bị cơ quan tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự theo hành vi thuộc điểm a khoản 1 Điều 179 Bộ luật hình sự.

    Hiện nay, theo quy định tại Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay thay thế Nghị định số 178 nêu trên thì không có quy định cụ thể về việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Nguyên nhân có sự thay đổi này là do sự phát triển rất đa dạng của các ngân hàng thương mại mà trong đó vốn chủ sở hữu không chỉ thuộc về Nhà nước mà còn có sự góp vốn của tổ chức, cá nhân khác.

    Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng hiện nay rất đa dạng về nghiệp vụ cũng như khách hàng. Do vậy, việc không quy định cụ thể về cho vay không có tài sản bảo đảm sẽ tạo điều kiện mở cho các ngân hàng trong việc quyết định dịch vụ cho vay và các chính sách tín dụng để thu hút khách hàng, tăng lợi nhuận và phát triển mạnh mẽ. Mặt khác, đánh giá theo quy định pháp luật thì về bản chất ngân hàng cũng là một doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nên việc quyết định hoạt động kinh doanh, tức là cho vay không có bảo đảm như thế nào là quyền của doanh nghiệp - ngân hàng đó.

    Nghị định số 163 chỉ quy định một mục riêng về việc cho vay tín chấp (vay uy tín) với một số đối tượng, trường hợp cụ thể. Đến nay, Nghị định 163 vẫn chưa có thông tư, quyết định hay văn bản hướng dẫn khác của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan Nhà nước khác có liên quan. Như vậy, về bản chất việc vi phạm theo hành vi cho vay không có bảo đảm trái pháp luật như điều luật nêu thực tế khó có thể xác định trách nhiệm hình sự đối với cán bộ nhân viên ngân hàng theo điểm a khoản 1 Điều 179 Bộ luật hình sự.

    b) Đối với hành vi cho vay quá giới hạn quy định

    Hiện nay, chưa có văn bản cụ thể nào của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chính thức khẳng định thế nào là cho vay quá giới hạn. Giới hạn ở đây được hiểu là giới hạn gì? Giới hạn cho vay theo quy định hay là giới hạn cho vay của ngân hàng?

    Đối với trường hợp cho vay tại các phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh ngân hàng thì tại Quyết định số 13/2008/QĐ-NHNN ngày 29/4/2008 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có hướng dẫn rõ: đối với một khách hàng chỉ cho vay tối đa đến 2 tỷ đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ quy đổi tương đương, trừ trường hợp khoản cấp tín dụng được bảo đảm toàn bộ bằng tiền, vàng, thẻ tiết kiệm, giấy tờ có giá do chính ngân hàng thương mại phát hành, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc Nhà nước.

    Giới hạn cho vay của ngân hàng hay còn gọi là mức cho vay tối đa trên cơ sở giá trị tài sản bảo đảm theo quy chế cho vay, quy trình nhận và đánh giá tài sản bảo đảm của mỗi ngân hàng. Đến nay, chưa có quy định cụ thể về tỷ lệ hay mức cho vay đối với tài sản bảo đảm là bao nhiêu mà hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách cho vay, sự nhận định, đánh giá thị trường của ngân hàng cho vay và tài sản bảo đảm cụ thể cũng như phương án kinh doanh, đầu tư, khả năng tài chính. Chính vì vậy, rất khó khăn trong việc xác định trách nhiệm hình sự các hành vi phạm tội quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, thuộc điểm b khoản 1 Điều 179 Bộ luật hình sự.

    Trên đây là tổng hợp những vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực tín dụng - ngân hàng và kiến nghị của kiểm sát viên tham gia trực tiếp đấu tranh với các hành vi phạm tội trong lĩnh vực này, mong được sự quan tâm của độc giả và trao đổi tham gia góp ý thêm của các đồng chí./.

Kiểm sát viên Trịnh Ngọc Chính - Phòng 1



THÔNG BÁO

hỗ trợ & tư vấn

Văn phòng tổng hợp

Hotline: 02053.815.126

Bản đồ trung tâm

Lịch tiếp dân

bộ đếm truy cập


Đầu trang