VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Lạng Sơn 0 Lạng Sơn 1 Lạng Sơn 2 Lạng Sơn 5 Lạng Sơn 7

Hoạt động nghiệp vụ

Kỹ năng kiểm sát đặc xá năm 2021 tại Viện kiểm sát hai cấp: Tỉnh - Huyện

Cập nhật: 16-07-2021 | Hoạt động nghiệp vụ | Lượt xem: 353

   

 Để thống nhất nhận thức nhằm bảo đảm thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả công tác đặc xá năm 2021, trên cơ sở các quy định, hướng dẫn và các tài liệu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, về một số nội dung cơ bản của công tác đặc xá năm 2021 và một số lưu ý trong hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá. Phòng 8, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn hướng dẫn thực hiện kiểm sát đặc xá năm 2021 như sau:

    I. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC ĐẶC XÁ NĂM 2021
     1. Về đối tượng đặc xá ở cấp tỉnh và huyện
      Đối tượng đặc xá năm 2021 ở cấp tỉnh và huyện, gồm: Người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
      2. Về điều kiện được đề nghị đặc xá ở cấp tỉnh và huyện
      Bao gồm 05 nhóm điều kiện cơ bản như sau:
      2.1. Điều kiện về xếp loại chấp hành án phạt tù: Quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 2 Điều 3 Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN về đặc xá năm 2021.
      - Người được đề nghị đặc xá phải có tất cả các quý đã đủ thời gian xếp loại trong quá trình chấp hành án phạt tù được xếp loại khá hoặc tốt (khoản 1 Điều 4 Nghị định số 52/2019/NĐ- CP ngày 14/6/2019 của Chính phủ).
      Về phần thời gian tiếp theo từ ngày 26/5/2021 đến ngày họp của Hội đồng xét, đề nghị đặc xá, các cơ sở giam giữ phải căn cứ kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù trong thời gian này để nhận xét, đánh giá kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù là khá hoặc tốt (các đợt đặc xá trước đây đánh giá cải tạo tốt) Do vậy, quá trình kiểm sát phải căn cứ quy định tại Điều 18 Nghị định số 133/2020/NĐ-CP ngày 03/11/2020 của Chính phủ để đối chiếu.
      - Đối với người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được đề nghị đặc xá thì ngoài các quý đã đủ thời gian xếp loại trong thời gian chấp hành án phạt tù được xếp loại khá hoặc tốt còn phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú trong thời gian được tạm đình chỉ xác nhận là đã chấp hành nghiêm quy định của pháp luật.
      2.2. Điều kiện về thời gian đã chấp hành án phạt tù: Quy định tại điểm b khoản 1 Điều 3; khoản 3, 4 Điều 3 Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN về đặc xá năm 2021.
      Thời gian chấp hành án phạt tù là thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành án phạt tù trong các cơ sở giam giữ phạm nhân. Ngoài ra, thời gian trích xuất, thời gian bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án cũng được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù. Đối với trường hợp bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, ngoài đủ điều kiện về xếp loại như những phạm nhân khác quá trình kiểm sát lập hồ sơ phải kiểm sát chặt chẽ việc cơ sở y tế điều trị xác nhận là trong thời gian bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh phạm nhân chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật.
      - Tại Quyết định về đặc xá năm 2021 quy định thời gian tối thiểu mà phạm nhân đã chấp hành án phạt tù để đủ điều kiện được đề nghị đặc xá thành nhiều mức khác nhau, cụ thể như sau:
      + Đã chấp hành được ít nhất 1/2 thời gian đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn.
      + Đã chấp hành được ít nhất 1/3 thời gian đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn nếu thuộc một trong các trường hợp có một trong các tình tiết ưu tiên quy định tại khoản 3 Điều 3 quyết định của Chủ tịch nước về đặc xá 2021.
      + Đã chấp hành được ít nhất 2/3 thời gian đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn: Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội; tội phá hoại chính sách đoàn kết; tội cưỡng ép, xúi dục người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân.
      + Đã chấp hành được 2/5 thời gian đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn nếu phạm một trong các tội sau: Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội; tội phá hoại chính sách đoàn kết; tội cưỡng ép, xúi dục người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; nhưng có một trong các tình tiết ưu tiên quy định tại khoản 3 Điều 3 quyết định của Chủ tịch nước về đặc xá 2021.
      2.3. Về thi hành phần dân sự: Quy định tại điểm c, d, đ khoản 1 Điều 3 Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN về đặc xá năm 2021.
      - Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí;
      - Đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm tham nhũng;
      - Đã thi hành xong hoặc thi hành được một phần nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối với người bị kết án phạt tù về tội phạm không phải là tội phạm tham nhũng;
      Theo quy định này, người bị kết án phạt tù về tội phạm không phải là tội phạm tham nhũng đã thi hành được một phần nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại theo quy định của pháp luật về dân sự thì có thể xem xét, đề nghị đặc xá.
      Trường họp đã thi hành được một phần nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại là trường hợp người đó và gia đình không còn tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án và không có thu nhập hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng chỉ đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm phải nuôi dưỡng.
      Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng mới thi hành được một phần nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng có thỏa thuận, xác nhận của đại diện hợp pháp của người bị hại hoặc của người được nhận cấp dưỡng về việc không phải tiếp tục thực hiện hoặc không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo bản án, quyết định của Tòa án và được UBND cấp xã nơi cư trú hoặc cơ quan thi hành án dân sự đang thụ lý vụ việc đó xác nhận.
      Đối với trường hợp phải thi hành nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với tài sản không thuộc sở hữu của Nhà nước thì phải được người được thi hành án đồng ý hoãn thi hành án hoặc không yêu cầu thi hành án đối với tài sản này.
      2.4. Về điều kiện khi được đặc xá không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự: Quy định tại điểm e khoản 1 Điều 3 Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN về đặc xá năm 2021.
      Đây là điều kiện mang tính định tính nên khi xem xét cần căn cứ vào nhân thân của phạm nhân, hành vi phạm tội được thể hiện trong bản án mà phạm nhân đang phải chấp hành, các tài liệu có trong hồ sơ phạm nhân, yêu cầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và diễn biến tư trưởng, thái độ học tập cải tạo của phạm nhân trong quá trình chấp hành án phạt tù để đánh giá phạm nhân được đặc xá có làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự hay không.
      * Lưu ý: Những trường hợp trước đây Công an các địa phương đã xác minh có thể ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự nên không đồng ý xét tha tù trước thời hạn có điều kiện; hoặc trường hợp đã xác minh không có nơi cư trú rõ ràng do gia đình đã chuyển đi nơi khác, không xác định được nơi cư trú mới thì cũng không đủ điều kiện đề nghị đặc xá.
      2.5. Không thuộc một trong các trường hợp không được đề nghị đặc xá theo quy định tại Điều 4 Quyết định về đặc xá: Quy định tại điểm g khoản 1 Điều 3 Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN về đặc xá năm 2021.
      3. Về trình tự, thủ tục đề nghị đặc xá
      3.1. Trình tự, thủ tục đề nghị của trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự
    Theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật Đặc xá, ngay sau khi Quyết định về đặc xá được công bố, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, Trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải niêm yết, phổ biến cho người đang chấp hành án phạt tù biết. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp căn cứ quy định này để kiểm sát Trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện niêm yết, phổ biến cho người đang chấp hành án phạt tù.
      Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Quyết định về đặc xá được niêm yết, phổ biến, Trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải cho những phạm nhân đã được rà soát có đủ điều kiện đề nghị đặc xá làm đơn đề nghị đặc xá.
     Trong thời gian 10 ngày kể từ ngày Quyết định về đặc xá được niêm yết, phổ biến, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải khẩn trương hoàn thiện hồ sơ người đủ điều kiện được gửi Tổ thẩm định liên ngành thẩm định (hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền lập danh sách, hồ sơ đề nghị) theo đúng thời gian quy định tại Hướng dẫn của Hội đồng tư vấn đặc xá.
      Đối với trường hợp phạm nhân trích xuất: Nếu xét thấy họ có đủ điều kiện đề nghị đặc xá, Trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận trích xuất phạm nhân nhưng không quản lý hồ sơ gốc phải khẩn trương có văn bản đề nghị Trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện đang quản lý hồ sơ phạm nhân xem xét, lập hồ sơ đề nghị đặc xá.
      3.2. Trình tự, thủ tục đề nghị của Tòa án
      Theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Luật Đặc xá, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Quyết định về đặc xá được công bố, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có trách nhiệm thông báo Quyết định về đặc xá cho người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá gửi Tổ thẩm định liên ngành.
      Trường hợp người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cư trú ở địa phương ngoài phạm vi địa giới hành chính của Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ thì Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ thông báo cho Tòa án nhân dân cấp huyện, nơi người đang được tạm đình chỉ cư trú lập danh sách, hồ sơ của người được đề nghị đặc xá, chuyển đến Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ để tổng hợp, gửi Tổ thẩm định liên ngành.
      3.3.Theo quy định tại khoản 4 Điều 15 Luật Đặc xá, Giám thị Trại tạm giam, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thông báo, niêm yết công khai danh sách người được đề nghị đặc xá.
      3.4.Theo quy định tại khoản 4 Điều 15 Luật Đặc xá,Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền quy định tại Điều 30 của Luật này về kết quả lập danh sách, hồ sơ của người được đề nghị đặc xá để kiểm sát trước khi gửi Tổ thẩm định liên ngành.
      4. Về biểu mẫu thực hiện công tác đặc xá năm 2021
      Đặc xá năm 2021 sử dụng hệ thống biểu mẫu (27 biểu mẫu) ban hành kèm theo Quyết định số 5704/QĐ-BCA ngày 09/7/2021 của Bộ Công an.
      II. HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT
      Theo quy định của Luật, trong công tác đặc xá Viện kiểm sát nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xávà kiểm sát thực hiện Quyết định đặc xá. Cụ thể:
      1. Một số quy định về hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá và kiểm sát thực hiện Quyết định đặc xá
      Thứ nhất: Căn cứ pháp lý tiến hành kiểm sát quy định tại Điều 30, Điều 37 Luật Đặc xá và Điều 21 Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 501/QĐ-VKSNDTC ngày 12/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Đối với công tác đặc xá năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp còn căn cứ vào Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN ngày 30/6/2021 của Chủ tịch nước về đặc xá năm 2021 và Hướng dẫn số 63/HD-HĐTVĐX ngày 07/7/2021 của Hội đồng tư vấn đặc xá. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh căn cứ thêm Công văn số 2792/VKSNDTC-V8 ngày 09/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về triển khai Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN ngày 30/6/2021 của Chủ tịch nước về đặc xá năm 2021.
      Thứ hai: Đối tượng của hoạt động kiểm sát là việc tuân theo pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá và thực hiện Quyết định đặc xá, như Giám thị Trại tạm giam, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cán bộ quản giáo, cán bộ Tòa án…
      Thứ ba: Về trách nhiệm, thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, huyện trong kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá, thực hiện Quyết định đặc xá tại Trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, quy định tại khoản 1, các điểm c, d và đ khoản 2, 3 và 4 Điều 15 và Điều 18 của Luật Đặc xá.
      2. Về phương thức kiểm sát, thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật Đặc xá
     Trong hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá, Viện kiểm sát có thể lựa chọn một trong hai phương thức kiểm sát là trực tiếp kiểm sát hoặc kiểm sát thông qua văn bản Thông báo về kết quả lập danh sách, hồ sơ của người được đề nghị đặc xá.
      - Về trực tiếp kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá, được thực hiện theo quy định của Luật Đặc xá năm 2018 và hướng dẫn, yêu cầu, quy định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trình tự, thủ tục khi tiến hành kiểm sát được thực hiện như đối với hoạt động trực tiếp kiểm sát nêu tại Điều 41 Quy chế số 501. Mẫu Quyết định, Kế hoạch, Kết luận trực tiếp kiểm sát được thực hiện theo hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Quyết định, Kế hoạch kiểm sát phải được gửi trước cho cơ quan, đơn vị được kiểm sát trước khi tiến hành kiểm sát để phục vụ công tác chuẩn bị. Kế hoạch kiểm sát phải cụ thể, chi tiết về nội dung, nêu rõ trọng điểm cần quan tâm khi tiến hành kiểm sát, thời gian kiểm sát và những yêu cầu của Đoàn kiểm sát.
      - Về kiểm sát thông qua văn bản Thông báo, chỉ thực hiện trong trường hợp đơn vị không có điều kiện để trực tiếp kiểm sát như do tình hình dịch bệnh, yêu cầu phòng chống Covid-19 hoặc yêu cầu khác, thì thực hiện phương thức này. Trong đó lưu ý, kiểm sát chặt chẽ về thời hạn gửi văn bản Thông báo (căn cứ để tính thời hạn gửi văn bản Thông báo là thời gian ghi trên tiêu đề của văn bản hoặc dấu bưu điện trên bì gửi văn bản hoặc ngày các cơ quan trên FAX đến Viện kiểm sát); hình thức văn bản thông báo; nghiên cứu nội dung thông báo về kết quả lập danh sách, hồ sơ để đánh giá kết quả công tác triển khai quyết định về đặc xá của cơ quan có thẩm quyền. Khi tiến hành kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải lập phiếu kiểm sát và thể hiện quan điểm đối với việc nghiên cứu, trường hợp phát hiện vi phạm thì tham mưu lãnh đạo Viện kiểm sát ban hành văn bản kiến nghị yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền chấm dứt vi phạm, có biện pháp khắc phục và xử lý người vi phạm.
     Một số lưu ý khi thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật Đặc xá:
     Một là, về thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị của VKSND được quy định tại Điều 30 Luật Đặc xá, được thực hiện khi kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá và kiểm sát thực hiện Quyết định đặc xá. Quyền yêu cầu được thực hiện khi phát hiện còn trường hợp có đủ điều kiện, tiêu chuẩn nhưng cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ không lập danh sách, hồ sơ đề nghị đặc xá cho họ thì VKSND yêu cầu cơ quan này lập hồ sơ, đưa họ vào danh sách đặc xá. Quyền kiến nghị được thực hiện trường hợp phát hiện vi phạm sơ hở, thiếu sót hoặc nguyên nhân, điều kiện có thể dẫn đến vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý thì VKSND kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm.
      Lưu ý, Luật Đặc xá không quy định quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá và kiểm sát thực hiện Quyết định đặc xá. Tuy nhiên, qua kiểm sát nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng trong việc thực hiện chế độ đối với người được đặc xá của Trại tạm giam, Nhà tạm giữ như cấp tiền tàu xe về quê, tiền tái hòa nhập cộng đồng, trả lại tài sản lưu ký..., Viện kiểm sát nhân dân lập biên bản vi phạm và căn cứ các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự để kháng nghị yêu cầu cơ quan, cá nhân có liên quan đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc thi hành án hình sự; chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật.
      Hai là, về kiểm sát việc giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 30 và Điều 37 Luật Đặc xá. Theo đó, Viện kiểm sát đã thực hiện kiểm sát việc lập hồ sơ, danh sách người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá có thẩm quyền kiểm sát việc giải quyết khiếu nại về việc lập danh sách người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá, hoạt động kiểm sát nhằm bảo đảm thời hạn khiếu nại theo khoản 3 Điều 36 Luật Đặc xá; thẩm quyền và thời hạn giải quyết theo khoản 1 Điều 37 Luật Đặc xá; thủ tục và kiểm sát việc gửi quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định.
      3. Một số lưu ý khi kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá
      Kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá là hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm việc thực hiện trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đặc xá đối với người đang chấp hành án phạt tù tại Trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh; trình tự lập hồ sơ, đề nghị đặc xá đối với người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, được thực hiện đúng quy định của Luật Đặc xá và những văn bản hướng dẫn.
      - Về thời gian Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền tiến hành kiểm sát, thực hiện sau khi nhận được “văn bản Thông báo” về kết quả lập danh sách, hồ sơ của người được đề nghị đặc xá của Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, theo quy định tại khoản 5 Điều 15 Luật Đặc xá và trước khi Tổ thẩm định liên ngành tiến hành thẩm định danh sách, hồ sơ của người được đề nghị đặc xá tại đơn vị được kiểm sát.
      - Về nhiệm vụ, quyền hạn: Khi tiến hành kiểm sát Viện kiểm sát cần căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân được quy định tại Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 để thực hiện trách nhiệm như yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu, kiểm sát hồ sơ, gặp hỏi người chấp hành án phạt tù; yêu cầu người có liên quan giải trình và tiến hành xác minh…Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác đặc xá,được quy định tại Điều 30 và Điều 37 Luật Đặc xá.
      - Nội dung cơ bản của hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá gồm:
      Một là, đánh giá việc thực hiện các biện pháp phổ biến, tuyên truyền Quyết định số 1161/QĐ-CTN ngày 30/6/2021 của Chủ tịch nước về đặc xá năm 2021 (Quyết định số 1161) và Hướng dẫn số 63/HĐTVĐX ngày 07/7/2021 của Hội đồng tư vấn đặc xá.
      Việc niêm yết, phổ biến cho người đang chấp hành án phạt tù (người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù); việc thành lập Hội đồng xét, đề nghị đặc xá để triển khai quyết định về đặc xá.
      Hai là, đánh giá việc tổ chức cho phạm nhân (người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù) viết đơn đề nghị đặc xá và bản cam kết.
      Ba là, đánh giá việc tổ chức cho tổ, đội phạm nhân họp giới thiệu phạm nhân có đủ điều kiện đề nghị đặc xá, để bình xét, bỏ phiếu kín.
     Bốn là, đánh giá việc rà soát, lập danh sách và hồ sơ người đủ điều kiện đề nghị đặc xá theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 52/2019/NĐ-CP ngày 14/6/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đặc xá. Kết quả ban đầu:
      Trong đó cần nắm rõ, tổng số phạm nhân người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù (người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù) tính đến ngày xét: (Nam: Nữ: ).
      * Số phạm nhân (người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù) không đủ điều kiện đề nghị đặc xá.
      * Số phạm nhân (người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù) đủ điều kiện đề nghị đặc xá, phân tích theo các điều kiện.
      Năm là, đánh giá việc tiếp nhận, xử lý đơn thư liên quan đến đặc xá của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công dân đề nghị xét đặc xá? Trong đó: Số đủ điều kiện đặc xá? Số không đủ điều kiện đặc xá? Kết quả giải quyết, trả lời?
      Khi tiến hành kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải trực tiếp nghiên cứu từng hồ sơ phạm nhân, người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, đối chiếu với điều kiện được đề nghị đặc xá và những trường hợp có đủ điều kiện nhưng không được đề nghị đặc xá để xem xét. Việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá, bảo đảm đầy đủ tài liệu theo quy định tại Điều 14 Luật Đặc xá, được hướng dẫn tại Điều 5 Nghị định số 52/2019/NĐ-CP ngày 14/6/2019 của Chính phủ; điểm 1 mục IV Hướng dẫn số 63/HD-HĐTVĐX ngày 07/7/2021 của Hội đồng tư vấn đặc xá.
      Lưu ý, khi phát hiện trường hợp đủ điều kiện đề nghị đặc xá nhưng không được xem xét thì yêu cầu Chủ tịch Hội đồng xét đề nghị đặc xá hoặc Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh bổ sung hồ sơ, danh sách để Tổ thẩm định liên ngành xem xét hoặc phát hiện trường hợp không đủ điều kiện đề nghị đặc xá nhưng vẫn đề nghị thì để bảo đảm tính thận trọng cần đề nghị người có thẩm quyền xem xét lại việc lập hồ sơ, danh sách đề nghị đồng thời báo cáo ngay về Vụ 8 Viện kiểm sát nhân dân tối cao để chỉ đạo Kiểm sát viên là thành viên tham gia Tổ thẩm định liên ngành kiểm tra, xem xét.
      4. Một số lưu ý khi kiểm sát thực hiện Quyết định đặc xá
      Kiểm sát thực hiện Quyết định đặc xá là hoạt động kiểm sát của VKSND nhằm bảo đảm Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước được Giám thị Trại tạm giam; Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp huyện; Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, được thực hiện đúng quy định của Luật Đặc xá và những văn bản hướng dẫn.
      Về thời gian tiến hành kiểm sát, thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật Đặc xá, sau khi Văn phòng Chủ tịch nước chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức công bố Quyết định đặc xá trên phương tiện thông tin đại chúng. Do vậy, Viện kiểm sát các cấp chủ động theo dõi trên phương tiện thông tin đại chúng về việc công bố, thông báo Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước; đồng thời phối hợp với cơ quan, đơn vị được kiểm sát để tiếp nhận, quản lý chặt chẽ thông tin là cơ sở để thực hiện trách nhiệm của VKSND. Các bước và nội dung cơ bản khi tiến hành thực hiện Quyết định đặc xá bao gồm:
      Một là, kiểm sát việc Giám thị Trại tạm giam, Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp huyện, niêm yết công khai quyết định đặc xá và danh sách người được đặc xá; việc thông báo bằng văn bản đến Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó về cư trú, làm việc. Đối với trường hợp người được đặc xá là người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thông báo bằng văn bản đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý người đó.
      Hai là, kiểm sát việc Giám Trại tạm giam, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp huyện, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, tổ chức công bố và thực hiện Quyết định đặc xá đối với người được đặc xá.
      Ba là, kiểm sát việc Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận đặc xá cho người đang chấp hành án phạt tù tại Trại tạm giam Công an cấp tỉnh, Nhà tạm giữ Công an cấp huyện được đặc xá; Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp Giấy chứng nhận đặc xá cho người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được đặc xá bảo đảm đúng thẩm quyền thời hạn, đối tượng và nội dung.
      Lưu ý, trường hợp không xác định được nơi người được đặc xá về cư trú thì cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận đặc xá có trách nhiệm liên hệ với Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc tổ chức, đơn vị quân đội để tiếp nhận người được đặc xá và gửi bản sao giấy chứng nhận đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó sẽ về cư trú hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội nơi người đó về làm việc.
      Bốn là, kiểm sát việc thực hiện các chế độ đối với người được đặc xá theo quy định của pháp luật như cấp tiền tàu xe, tiền tái hòa nhập cộng đồng, tài sản lưu ký…
      5. Về kiểm sát hồ sơ đề nghị đặc xá; kiểm sát trình tự, thủ tục lập hồ sơ, danh sách người có đủ điều kiện đề nghị đặc xá và kiểm sát đối tượng, tiêu chuẩn những người được lập hồ sơ đề nghị đặc xá năm 2021
      Về kiểm sát hồ sơ đề nghị đặc xá, bảo đảm đầy đủ tài liệu theo quy định tại Điều 14 Luật Đặc xá được hướng dẫn tại Điều 5 Nghị định số 52/2019/NĐ-CP ngày 14/6/2019 của Chính phủ, điểm 1 mục IV Hướng dẫn số 63/HD-HĐTVĐX ngày 07/7/2021 của Hội đồng tư vấn đặc xá.
      Lưu ý, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc Cơ quan có thẩm quyền sử dụng biểu mẫu bảo đảm theo đúng các biểu mẫu được ban hành kèm theo Quyết định số 5704/QĐ-BCA ngày 09/7/2021 của Bộ Công an.
      Kiểm sát về trình tự, thủ tục lập hồ sơ, danh sách người có đủ điều kiện đề nghị đặc xá theo quy định tại Điều 15 Luật Đặc xá được hướng dẫn tại Điều 7 Nghị định số 52/2019/NĐ-CP ngày 14/6/2019 của Chính phủ, điểm 2 mục IV Hướng dẫn số 63/HD-HĐTVĐX ngày 07/7/2021 của Hội đồng tư vấn đặc xá.
      Kiểm sát về đối tượng, các điều kiện của những người được lập hồ sơ đề nghị đặc xá được quy định tại Điều 3 Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN ngày 30/6/2021 của Chủ tịch nước về đặc xá năm 2021 và mục II của Hướng dẫn số 63/HD-HĐTVĐX ngày 07/7/2021 của Hội đồng tư vấn đặc xá. Bên cạnh đó, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên cũng cần phải nắm chắc về các trường hợp không được đề nghị đặc xá quy định tại Điều 4 Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN nêu trên và mục III của Hướng dẫn số 63/HD-HĐTVĐX ngày 07/7/2021 của Hội đồng tư vấn đặc xá, đồng thời phải bảo đảm điều kiện khi được đặc xá không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự.

Trần Hồng - Phòng 8 tổng hợp



THÔNG BÁO

hỗ trợ & tư vấn

Văn phòng tổng hợp

Hotline: 02053.815.126

Bản đồ trung tâm

Lịch tiếp dân

bộ đếm truy cập


Đầu trang