VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Lạng Sơn 0 Lạng Sơn 1 Lạng Sơn 2 Lạng Sơn 5 Lạng Sơn 7

Trao đổi nghiệp vụ

Một số điểm mới của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam và những thuận lợi, khó khăn,vướng mắc trong tổ chức thực hiện

Cập nhật: 22-08-2018 | Trao đổi nghiệp vụ | Lượt xem: 776

          Ngày 25-11-2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật thi hành tạm giữ, tạm giam Luật thi hành tạm giữ, tạm giam có nhiều nội dung mới, quy định cụ thể, rõ ràng, tháo gỡ những bất cập, hạn chế; bảo đảm hiệu quả công tác quản lý giam giữ và phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; đồng thời bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam, đáp ứng tốt các yêu cầu về cải cách tư pháp, cải cách hành chính hiện nay.

          Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam đã quy định đầy đủ, cụ thể hơn về quyền của người đang bị tạm giữ, tạm giam thể hiện rõ quy định của Hiến pháp năm 2013 về việc đề cao quyền con người, quyền công dân trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, cụ thể:

          Điều 9 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam đã làm rõ hơn khái niệm người bị tạm giữ, tạm giam Luật mới quy định: “Người bị tạm giữ, tạm giam là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giam, gia hạn tạm giam theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bao gồm bị can; bị cáo; người bị kết án phạt tù; người bị kết án tử hình mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang chờ thi hành án; người bị tạm giam để thực hiện việc dẫn độ”.

           Quy định về thân nhân của người bị tạm giữ, tạm giam: Trong Luật thi hành tạm giữ, tạm giam có phạm vi hẹp hơn so với người thân thích của người bị tạm giữ, tạm giam trong Bộ luật tố tụng hình sự, đó là thân nhân được mặc nhiên thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam; còn những người khác không phải là thân nhân muốn gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam thì phải được cơ quan đang thụ lý vụ án đồng ý.

          Điều 9 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam đã bổ sung một số quyền quan trọng khác cho người bị tạm giữ, tạm giam như: được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình (điểm a khoản 1); Được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý (điểm đ khoản 1); Được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự” (điểm e khoản 1); Được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam (điểm g khoản 1).

          Quy định quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam trong Luật thi hành tạm giữ, tạm giam đã có sự khác biệt với người đã chấp hành án phạt tù, chẳng hạn như: người chấp hành án phạt tù phải lao động, học tập…; còn người bị tạm giữ, tạm giam không phải thực hiện. Người bị tạm giữ, tạm giam có quyền bầu cử, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật trưng cầu ý dân; người chấp hành án phạt tù không có quyền này…(điểm b khoản 1 Điều 9). Bởi vì người bị tạm giữ, tạm giam chưa được xem là có tội, chỉ khi nào có bản án của Tòa án và bản án này có hiệu lực pháp luật thì khi đó họ mới được coi là có tội.

          Điều 19 của Luật đã quy định hạn chế đối với người bị tạm giữ, tạm giam như: Hạn chế đi lại, giao dịch, tiếp xúc, thông tin, liên lạc, tuyên truyền tín ngưỡng, tôn giáo. Trường hợp cần thiết thực hiện giao dịch dân sự thì phải thông qua người đại diện hợp pháp và được sự đồng ý của cơ quan đang thụ lý vụ án và Điều 22 cũng quy định người bị tạm giữ được gặp thân nhân một lần trong thời gian tạm giữ, một lần trong mỗi lần gia hạn tạm giữ. Người bị tạm giam được gặp thân nhân một lần trong một tháng; việc thăm gặp do Thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định. Việc gặp người bào chữa được thực hiện theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

         Trong quá trình bị tạm giữ, tạm giam, người bị tạm giữ, người bị tạm giam được mặc quần áo của cá nhân, không bắt buộc phải mặc đồng phục. Nếu người bị tạm giữ, người bị tạm giam không mang theo quần áo thì cơ sở giam giữ có trách nhiệm cho mượn để sử dụng.

         Về quy trình tiếp nhận người bị tạm giữ, tạm giam (Điều 16) và hồ sơ quản lý tạm giữ, tạm giam (Điều 17). Luật quy định cụ thể hơn so với văn bản pháp luật cũ, tạo điều kiện cho cơ sở giam giữ thực thi pháp luật, quản lý hồ sơ đầy đủ hơn; đồng thời cũng tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý giam giữ, Viện kiểm sát nhân dân… trong việc kiểm tra, giám sát hồ sơ sổ sách.

          Luật thi hành tạm giữ, tạm gian quy định một chương riêng (Chương V) về chế độ quản lý đối với người bị tạm giữ, tạm giam là người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi ở cùng, về quyền được chăm sóc y tế của người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Theo đó, các đối tượng trên được Luật quy định chi tiết về việc giam, giữ, chế độ ăn ở, quản lý, sinh hoạt, chăm sóc y tế, gặp gỡ thân nhân… Điều 34 quy định người bị tạm giữ, tạm giam là người chưa thành niên được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng ăn được tăng thêm về thịt, cá..; Điều 35 quy định về chế độ ăn ở, quản lý người bị tạm giữ, tạm giam là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi; người bị tạm giữ, người bị tạm giam được hưởng chế độ khám bệnh, chữa bệnh, phòng, chống dịch bệnh. Trường hợp bị ốm đau, bệnh tật, thương tích thì được khám và điều trị tại cơ sở y tế của cơ sở giam giữ, được nhận thuốc chữa bệnh từ thân nhân... Luật cũng quy định cụ thể hơn về phân loại quản lý người bị tạm giữ, người bị tạm giam đối với người đồng tính, chuyển giới.

          Luật quy định cụ thể hơn về hệ thống tổ chức cơ quan quản lý; cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam với cơ quan điều tra. Theo đó, hệ thống Cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam đã tách bạch (tương đối) với cơ quan điều tra, nhất là trong Công an nhân dân, nhằm bảo đảm tính độc lập của hoạt động quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam với hoạt động điều tra và tránh bức cung, nhục hình. Quy định rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam. Đặc biệt, Luật đề cao trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết khiếu nại trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam. Theo đó, có 02 Điều luật quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm thực hiện yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam. Đặc biệt, luật quy định rất rõ về thời hạn giải quyết, trả lời, thông báo… của cơ quan quản lý, thi hành giam giữ cho Viện kiểm sát được biết, như: Yêu cầu cung cấp hồ sơ, thông báo tình hình giam giữ, vi phạm pháp luật (là 15 ngày); yêu cầu tự kiểm tra và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát (là 30 ngày); kháng nghị quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 42 của Luật phải được giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kháng nghị; kiến nghị quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 42 của Luật phải được xem xét, giải quyết, trả lời cho Viện kiểm sát trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị. Điều này, tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý, thi hành giam giữ biết được thời gian cụ thể để chỉ đạo, đôn đốc khắc phục, thực hiện các quy định của pháp luật kịp thời, đúng theo quy định.

          Quy định chặt chẽ, bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Luật có 18 Điều liên quan tới khiếu nại, tố cáo, thể hiện sự quan tâm đến quyền con người, đặc biệt là đối tượng đang bị giam giữ. Ngoài ra, so với quy định cũ thì luật mới quy định rất cụ thể về phạm vi, thời hiệu khiếu nại, tố cáo, cũng như thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại tố cáo…

         Luật còn Quy định về kỷ luật đối với người bị tạm giữ, tạm giam có nhiều điểm mới so với quy định trước đây đó là: Quy định bổ sung người bị tạm giữ bị xử lý kỷ luật nếu vi phạm nội quy. Hoặc quy định chỉ cùm một chân khi người bị cách ly ở buồng kỷ luật nếu có hành vi chống phá, tự sát, tự gây thương tích cho bản thân… Ngoài ra, việc cùm chân không áp dụng đối với người chưa đủ 18 tuổi, phụ nữ, người khuyết tật nặng, người đủ 70 tuổi trở lên (khoản 3 điều 23).

          Thuận lợi: Qua 02 năm thực hiện Luật thi hành tạm giữ, tạm giam thấy rằng Luật đã góp phần tháo gỡ những khó khăn, hạn chế trong công tác quản lý giam, giữ, cũng như quyền của người bị tạm giữ, tạm giam được quy định trong các Nghị định 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam; Nghị định số 98/2002/NĐ - CP ngày 07/11/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế về tạm giữ, tạm giam; Nghị định số 09/NĐ - CP ngày 25/01/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung chế độ ăn và khám, chữa bệnh đối với người bị tạm giữ, tạm giam và một số văn bản khác quy định về tạm giữ, tạm giam.

         Khó khăn: Trong các hướng dẫn thi hành luật tạm giữ, tạm giam vẫn còn bất cập như Thông tư số 35/2017/TT-BCA ngày 19/9/2017 của Bộ trưởng BCA quy định danh mục các công trình xây dựng nhà tạm giữ có “Buồng giam người đang chờ chấp hành án phạt tù”. Nhưng thực tế hiện nay Nhà tạm giữ Công an huyện vẫn chưa có “Buồng giam người đang chờ chấp hành án phạt tù”.Vì vậy khi có người đến chờ chấp hành án vẫn phải đưa vào buồng tạm giam.

         Điều 16 Luật thi hành Tạm giữ, Tạm giam năm 2015 quy định: “Khi tiếp nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam cơ sở giam giữ có trách nhiệm: … (2). Lập biên bản giao nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam, tài liệu, hồ sơ kèm theo; tổ chức khám sức khỏe…” Ngay khi tiếp nhận người bị tạm giữ, tạm giam cơ sở giam giữ phải tổ chức khám sức khỏe cho người bị tạm giữ, tạm giam để có cơ sở phân loại giam giữ. Nhưng hiện nay Nhà tạm giữ Công an cấp huyện không có cán bộ y tế chuyên trách nên chỉ kiểm tra các dấu vết bên ngoài thân thể, không thể xác định được người bị tạm giữ, tạm giam có bị bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, người đồng tính hay chuyển giới để phân loại giam, giữ riêng, và cũng chưa bố trí buồng y tế đối với nhà tạm giữ. Khi phải điều trị khi ốm, bệnh tật.

          Điều 27 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam quy định về: Chế độ ăn, ở của người bị tạm giữ, người bị tạm giam có quy định sử dụng điện, Nghị định số 120/2017/NĐ-CP ngày 06/11/2017 của Chính phủ quy định,định mức sử dụng điện là 45kW/h điện và 3m3 nước trên một đầu người nhưng thực tế hiện nay các buồng Tạm giam không có công tơ điện riêng, không có đồng hồ đo nước riêng mà sử dụng điện, nước chung với đơn vị, do vậy thời gian qua khi kiểm sát vấn đề này gặp khó khăn.

         Trên đây là một số điểm mới của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam và thuận lợi, vướng mắc của Viện kiểm sát nhân dân huyện trong quá trình thực hiện công tác thời gian qua./.
 

Phương Thị Thơm - VKSND huyện Văn Quan
 



THÔNG BÁO

hỗ trợ & tư vấn

Ms Kim Thoa

Hotline: 0915.350585

Bản đồ trung tâm

Lịch tiếp dân

bộ đếm truy cập


Đầu trang