VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Lạng Sơn 0 Lạng Sơn 1 Lạng Sơn 2 Lạng Sơn 5 Lạng Sơn 7

Trao đổi nghiệp vụ

Kinh nghiệm kiểm sát điều tra vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Cập nhật: 25-06-2018 | Trao đổi nghiệp vụ | Lượt xem: 710

          Trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát điều tra vụ án hình sự, tức là kiểm sát việc khởi tố, điều tra, lập hồ sơ của Cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật. 

          Điều 166 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, quy định 09 nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự, để cụ thể hóa các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố các vụ án hình sự (kèm theo Quyết định số 03/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017) trong đó phản ánh rõ nội dung, quy trình, thời gian, đối tượng và các công việc Viện kiểm sát phải thực hiện. Do mỗi vụ án có những đặc điểm riêng nên Quy chế của Ngành không thể đề cập hết các thao tác nghiệp cụ thể. Từ thực tiễn xử lý các vụ án, để làm tốt công tác kiểm sát điều tra vụ án hình sự theo tôi trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát cần thực hiện tốt các nội dung sau:

          Một là, kiểm sát chặt chẽ việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can: Đây là bước đầu tiên và quan trọng nhất của công tác kiểm sát điều tra. Kiểm sát viên kiểm tra tài liệu xem căn cứ để khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đã đảm bảo chưa, có cần bổ sung thêm nội dung gì nữa không, để phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hay không phê chuẩn. Việc làm này phải tiến hành cẩn thận, tỉ mỉ để tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm; tránh việc vội vàng và duy ý chí khi tham mưu, đề xuất phê chuẩn. Trường hợp còn băn khoăn về chứng cứ, tội danh thì có thể yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung, tài liệu, chứng cứ hoặc báo cáo lãnh đạo Viện cho ý kiến chỉ đạo.

          Hai là, đề ra yêu cầu điều tra, bản yêu cầu điều tra phải đảm bảo chất lượng, có nội dung đầy đủ, toàn diện, sát với tiến độ điều tra và bảo đảm tính khả thi, muốn vậy Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ các tài liệu có trong hồ sơ, phân tích, đánh giá chứng cứ, đưa ra các giả thuyết về diễn biến của vụ án, đặt ra các câu hỏi và câu trả lời về những vấn đề cần chứng minh trong vụ án theo quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nêu những vấn đề cần điều tra. Như vậy, việc đề ra yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên có ý nghĩa rất quan trọng đối với kết quả điều tra của Cơ quan điều tra. Hoạt động điều tra có đúng hướng, đầy đủ hay không, có kịp thời hiệu quả hay không một phần lớn phụ thuộc vào việc đề ra các yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên. Vì vậy, Kiểm sát viên phải bám sát quá trình điều tra vụ án của Điều tra viên để có những yêu cầu điều tra kịp thời, có hiệu quả. Nếu Kiểm sát viên đề ra yêu cầu điều tra một cách kịp thời và đúng những vấn đề cần phải điều tra, thì sẽ hạn chế tình trạng oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm, hạn chế được tình trạng phải hoàn trả hồ sơ giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng do thiếu chứng cứ… qua đó uy tín của Kiểm sát viên với Cơ quan điều tra được nâng cao. Khác với Kế hoạch điều tra của Cơ quan điều tra, Yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên là văn bản pháp lý có tính chất định hướng cho hoạt động điều tra đúng những vấn đề cần phải điều tra và Cơ quan điều tra, Điều tra viên phải có trách nhiệm thực hiện đầy đủ. Căn cứ vào Yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên, Điều tra viên xây dựng Kế hoạch điều tra vụ án báo cáo Lãnh đạo duyệt và tiến hành các hoạt động điều tra theo kế hoạch.

          Hoạt động đề ra Yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên bắt đầu từ khi khởi tố vụ án, xuyên suốt quá trình điều tra và kết thúc khi vụ án được đình chỉ hoặc truy tố bằng bản Cáo trạng. Các yêu cầu điều tra bằng lời nói, là do Kiểm sát viên đề ra trong quá trình trực tiếp kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, đối chất, thực nghiệm điều tra.Đối với điều tra viên cần yêu cầu điều tra bằng văn bản do Kiểm sát viên đề ra liên quan đến những vấn đề cần điều tra để củng cố chứng cứ hoặc để làm rõ những tình tiết liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự như: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, không gian, địa điểm có khách thể xâm hại hay không và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý, có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, mục đích, động cơ phạm tội; thu thập đầy đủ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và những đặc điểm về nhân thân của bị can; thu thập đầy đủ các chứng cứ phục vụ cho việc đánh giá tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, các chứng cứ phục vụ cho việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự (ví dụ: Bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, các chi phí điều trị thương tích, chi phí mai táng…). Kiểm sát viên cần bàn bạc với Điều tra viên về từng nội dung yêu cầu điều tra để có sự thống nhất về hoạt động điều tra. Những nội dung nào, Điều tra viên chưa rõ hoặc hiểu chưa đầy đủ thì cần giải thích. Trường hợp cần thiết có thể trao đổi với Điều tra viên về cách thức tiến hành điều tra để đạt được nội dung theo yêu cầu điều tra. Kiểm sát viên thường xuyên theo dõi tiến độ điều tra, những vấn đề phát sinh cần điều tra tiếp thì trao đổi trực tiếp bằng lời với Điều tra viên hoặc Lãnh đạo Cơ quan điều tra hoặc ra bản yêu cầu điều tra bổ sung.

          Ba là, trao đổi thông tin về vụ án: Xây dựng kế hoạch hoặc thống nhất những điểm chính về phối hợp công tác điều tra, kiểm sát điều tra: Khi quản lý và xử lý tin báo hoặc được phân công thụ lý vụ án, Kiểm sát viên phải nhanh chóng nắm chắc diễn biến hành vi phạm tội, kết quả điều tra, thu thập có trong hồ sơ vụ án để bàn với Điều tra viên xây dựng kế hoạch phối hợp công tác điều tra và kiểm sát điều tra. Trong đó, nêu rõ những nội dung cần điều tra, thu thập chứng cứ, đối tượng phải xem xét, xử lý những vấn đề cần làm sáng tỏ thêm… Từ đó, thống nhất về thời gian, phương pháp thực hiện và dự kiến công tác phối hợp về sau. Trên cơ sở thảo luận giữa Điều tra viên và Kiểm sát viên để thống nhất về phương thức, cách thức giải quyết vụ án.
          Bốn là, đọc và nghiên cứu hồ sơ vụ án: Tùy từng hồ sơ vụ án, có thể nghiên cứu, đọc thủ tục tố tụng riêng hoặc tài liệu phản ánh chứng cứ riêng hoặc kết hợp cả hai. Nếu vụ án có nhiều hành vi thì lần lượt đọc từng hành vi từ trước đến sau, từ địa điểm gây án này đến địa điểm gây án khác, từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng này đến nhóm đối tượng khác. Chú ý trình tự giải quyết, xử lý vụ án như tiếp nhận tin báo, lấy lời khai ban đầu, tài liệu giám định (nếu có), lời khai của bị can, người bị hại, nhân chứng. Kinh nghiệm cho thấy đọc và nghiên cứu hồ sơ vụ án phải thực hiện từ đầu và suốt quá trình kiểm sát điều tra; tránh việc chỉ đọc hồ sơ giải quyết tin báo, đọc khi tham mưu phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can sau đó dừng lại. Đến khi kết thúc điều tra chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát, Kiểm sát viên mới đọc tiếp, thì sẽ không nắm được tình trạng hồ sơ, kết quả điều tra. Mặt khác, với vụ án lớn, có hàng ngàn trang tài liệu, sau khi kết thúc điều tra Kiểm sát viên mới đọc thì rất dễ rối về thông tin.

          Năm là, tăng cường hội ý, sơ kết, tổng kết quá trình điều tra, xử lý vụ án: Kiểm sát viên phải thường xuyên hội ý với Điều tra viên để đánh giá kết quả điều tra, thu thập chứng cứ để thống nhất những nội dung và các bước phải làm tiếp theo. Tùy từng vụ án, điều kiện cụ thể của đơn vị, địa phương và mối quan hệ phối hợp để có cách thức và biện pháp phù hợp để thực hiện. Trong đó, việc hội ý, thường xuyên giữa Kiểm sát viên và Điều tra viên là vấn đề quan trọng nhất, vì không ai có thể hiểu rõ hồ sơ vụ án, tiến độ điều tra, thu thập chứng cứ hơn Điều tra viên và Kiểm sát viên. Tại các cuộc hội ý này, Điều tra viên và Kiểm sát viên tự rà soát tiến độ điều tra, kết quả thu thập chứng cứ, các biểu hiện tố tụng được thể hiện trong hồ sơ như thế nào? Có gì còn thiếu sót hoặc chưa làm rõ thì khắc phục ra sao? Đối với các vụ án khó, án phức tạp về chứng cứ, tội danh thì Điều tra viên và Kiểm sát viên phải đề nghị Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát chủ trì cuộc họp để cho ý kiến chỉ đạo. Thời gian tổ chức thực hiện việc sơ kết, tổng kết nhiệm vụ nên thực hiện vào giai đoạn giữa của thời hạn điều tra hoặc vụ án sắp được kết thúc điều tra. Khi hội ý, sơ kết, tổng kết yêu cầu Kiểm sát viên phải nêu chính kiến của mình, đánh giá toàn diện về việc lập hồ sơ từ chứng cứ cho đến thủ tục tố tụng.

          Sáu là, tham gia kiểm sát hỏi cung, kiểm sát lấy lời khai nhân chứng, người bị hại: Hiện nay, Quy chế của Ngành có quy định những trường hợp nào thì bắt buộc phải tiến hành kiểm sát hỏi cung và kiểm sát lấy lời khai người làm chứng, người bị hại. Nhưng chúng tôi thấy do yếu tố khách quan và chủ quan, nên nhìn chung, Kiểm sát viên cần quan tâm đúng mức công tác này. Đối với những vụ án gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nhiều bị can tham gia, phạm tội nhiều lần, hành vi phạm tội diễn ra trong thời gian dài thì đặc biệt quan tâm phải kiểm sát việc hỏi cung bị can. Chú trọng kiểm sát hỏi cung các bị can là chủ mưu, cầm đầu, không nhận tội, không hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình điều tra… Quan tâm đúng mức việc kiểm sát lấy lời khai người làm chứng, người bị hại. Có nhiều vụ án, vai trò của người làm chứng, người bị hại trở thành căn cứ để xác định một đối tượng hoặc nhiều đối tượng có phạm tội hay không. Trong trường hợp này, theo tôi nhất thiết Kiểm sát viên phải kiểm sát việc lấy lời khai. Thực tiễn xử lý các vụ án hình sự cho thấy nhiều người làm chứng vì lý do chủ quan và khách quan nên khai báo thiếu trung thực, thiếu ổn định, nên việc kiểm sát lấy lời khai giúp cho Kiểm sát viên đánh giá đúng hơn sự thật khách quan của vụ án, có hay không có sự việc phạm tội, giá trị lời khai của người làm chứng, người bị hại như thế nào.

          Bảy là, tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với điều tra, đảm bảo cho việc điều tra khách quan, toàn diện, không để xẩy ra oan, sai thuộc về Viện kiểm sát, mà chủ thể là Kiểm sát viên. Vì vậy, Kiểm sát viên phải làm hết vai trò, trách nhiệm của mình trong hoạt động kiểm sát điều tra. Nếu Kiểm sát viên thực hiện đúng Quy chế của ngành với trách nhiệm cao thì ít xảy ra sai sót, vi phạm. Kiểm sát viên phải làm việc với vai trò chủ động, khắc phục tư tưởng thụ động, nể nang, chờ án kết thúc điều tra mới đọc, nghiên cứu hồ sơ. Kế hoạch, phương pháp, trình tự nhiệm vụ cụ thể công tác này phải được vạch ra ngay từ đầu, khi có diễn biến mới thì cần bổ sung thêm kế hoạch kiểm sát điều tra.

          Tám là, nhiệm vụ kiểm sát điều tra các vụ án hình sự phải được tổ chức thường xuyên, liên tục, không được ngắt quãng. Tất cả các hoạt động trên đều phải được ghi chép, cập nhật vào sổ sách, vào nhật ký thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án để lưu vào hồ sơ kiểm sát. Nếu thiếu hoạt động thường xuyên, chậm theo dõi hoặc chậm tiến hành các nhiệm vụ của kiểm sát điều tra thì Kiểm sát viên sẽ không nắm được tiến độ của vụ án, kết quả điều tra, thu thập chứng cứ nên không phát hiện được tồn tại, vi phạm có trong hồ sơ hoặc nội dung cần tiếp tục điều tra để bàn với Điều tra viên các bước làm tiếp theo. Kiểm sát viên cần sáng tạo để lựa chọn nội dung và thời gian tham gia công tác kiểm sát điều tra như kiểm sát việc hỏi cung, việc lấy lời khai người làm chứng, bị hại, yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu… Đối với địa bàn nhiều án, Kiểm sát viên thụ lý kiểm sát điều tra một lúc nhiều vụ, nếu không có phương pháp làm việc khoa học thì sẽ không làm hết việc và chất lượng hồ sơ không cao. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, nên sử dụng tối đa yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu gửi Điều tra viên tổ chức thực hiện.

          Chín là, chú trọng đúng mức việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, không quá đề cao việc trao đổi thông tin, hội ý. Vì xét cho đến cùng, tất cả các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ được phản ánh trong hồ sơ. Đọc kỹ hồ sơ vụ án là để kiểm tra lại thủ tục tố tụng, nắm chắc hành vi phạm tội và các tình tiết khác, đồng thời kiểm tra xem Điều tra viên đã tổ chức thực hiện các yêu cầu điều tra, chủ trương chỉ đạo điều tra, thu thập chứng cứ như thế nào, có sai sót, vi phạm gì cần phải bổ sung, khắc phục không?

          Mười là, sử dụng đồng bộ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện nhiệm vụ kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra. Trước khi vụ án kết thúc điều tra, Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên chuyển toàn bộ hồ sơ cho Kiểm sát viên nghiên cứu để xác định toàn bộ yêu cầu điều tra đã được Điều tra viên thực hiện đầy đủ chưa, có những vấn đề nào chưa thực hiện hoặc cần phải điều tra bổ sung thì tiếp tục yêu cầu điều tra để hoàn chỉnh hồ sơ trước khi kết luận điều tra, để đảm bảo cho việc điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan hoặc bỏ lọt tội phạm./.

Hoàng Hữu Sỹ - Viện kiểm sát huyện Chi Lăng



THÔNG BÁO

hỗ trợ & tư vấn

Văn phòng tổng hợp - Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin

Hotline: 02053.716.910

Bản đồ trung tâm

Lịch tiếp dân

bộ đếm truy cập


Đầu trang