VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Lạng Sơn 0 Lạng Sơn 1 Lạng Sơn 2 Lạng Sơn 5 Lạng Sơn 7

Trao đổi nghiệp vụ

Trao đổi thêm về bài viết của tác giả Phạm Văn Tiến về yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Cập nhật: 12-04-2018 | Trao đổi nghiệp vụ | Lượt xem: 825

    Ngày 28/02/2018, tôi có bài viết trao đổi nghiệp vụ về “Yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” đăng trên Trang thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn; Ngày 07/3/2018, tác giả Phạm Văn Tiến có bài viết trao đổi đối với bài viết trên. Để rộng đường nghiên cứu và trên tinh thần phản biện khoa học, tôi có một số nội dung trao đổi thêm đối với bài viết của tác giả Phạm Văn Tiến như sau:

    Thứ nhất: Nội dung và phạm vi bài viết của tôi là “Yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” hay nói cách khác là tranh chấp yêu cầu trả lại tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…chứ không phải là tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, cũng không phải là tranh chấp về việc thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, tặng cho quyền sử dụng đất, càng không phải là tranh chấp quyền sở hữu đối với tài sản.

    Do đó, tác giả Phạm Văn Tiến đưa ra những căn cứ pháp luật quy định về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà; các giao dịch về đất đai đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; về việc bảo vệ người có quyền sử dụng đất, chủ sử hữu tài sản hợp pháp…v.v là không đúng căn cứ và không phù hợp với nội dụng, phạm vi bài viết trao đổi của tôi như nêu ở trên.

    Rõ ràng, tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản theo những căn cứ mà trong bài viết của tôi đã phân tích, do đó, trong trường hợp người có quyền quản lý giấy chứng nhận quyền sử sử dụng đất bị người khác chiếm giữ (vì những lý do khác nhau) nếu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án sẽ không thụ lý vì không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 BLTTDS quy định những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản; Tranh chấp đất đai…Trong 14 khoản của Điều 26 BLTTDS thì không có khoản nào quy định về tranh chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

    Thứ hai: Công văn số 141/TANDTC-KHXX ngày 21/9/2011 của Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn có nội dung như sau: “…các giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở…) không phải là “giấy tờ có giá”…; do đó, nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết buộc người chiếm hữu trả lại các giấy này thì Tòa án không thụ lý giải quyết…Tòa án trả lại đơn kiện cho người khởi kiện. Trong văn bản trả lại đơn khởi kiện, Tòa án phải ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện là yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án”.

    Thấy rằng: Công văn nêu trên hướng dẫn theo những quy định về tài sản của Bộ luật dân sự năm 2005 và quy định về thẩm quyền giải quyết của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về vấn đề tài sản không có gì thay đổi so với Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011 và Bộ luật tố tụng năm 2015 cũng đều không quy định yêu cầu đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Mặt khác, Công văn số 141 nêu trên có giá trị là mang tính hướng dẫn nghiệp vụ và chưa có văn bản nào khác thay thế hoặc hủy bỏ, do đó vẫn có giá trị để các cơ quan tiến hành tố tụng vận dụng trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

    Với những lý do trên thấy rằng, tác giả Phạm Văn Tiến cho rằng Công văn 141 không có giá trị vận dụng cho Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là không có cơ sở thuyết phục.

    Thứ ba: Tác giả Phạm Văn Tiến cho rằng, do Điều 26, 27 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chưa có quy định việc giải quyết “Yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”, nên thuộc trường hợp chưa có điều luật để áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, là nhận thức điều luật chưa đúng, bởi vì: Khoản 2 Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Vụ việc dân sự chưa có điều luật áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng. Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và Bộ luật này quy định”. Nhận thức quy định trên thấy rằng: “Chưa có điều luật để áp dụng” cần được hiểu là chưa có điều luật theo quy định của pháp luật dân sự để áp dụng, mà không phải theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bởi vì, theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng” (Điều 5 và Điều 6 Bộ luật dân sự quy định về áp dụng tập quán và áp dụng tương tự pháp luật). Như vậy, hiểu và nhận thức theo logic học thì “chưa có điều luật để áp dụng” cần phải được hiểu là chưa có điều luật của pháp luật dân sự hay chưa có quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.

    Mặt khác, như trong bài viết tôi đã phân tích: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản (vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản) theo quy định tại khoản 1 Điều 105 và Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015; Theo quy định tại Điều 1 Bộ luật dân sự thì phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự là…quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân…Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự, vì vậy không thỏa mãn điều kiện “là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, đối với yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc trường hợp Tòa án phải thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự.

    Tóm lại: Để việc áp dụng pháp luật được đúng đắn và thống nhất thì việc nhận thức đúng từng quy định của pháp luật, cũng như mối liên quan giữa các quy định của pháp luật với nhau…có ý nghĩa hết sức quan trọng; việc trao đổi nghiệp vụ đối với những vấn đề còn chưa có nhận thức thống nhất là hết sức cần thiết để đảm bảo cho việc vận dụng pháp luật trong thực tiễn công tác được đúng đắn. Trên tinh thần đó, tôi xin được trao đổi thêm đối với bài viết của tác giả Phạm Văn Tiến một số nội dung như trên./.

Nguyễn Tuấn Anh- P9 VKSND tỉnh Lạng Sơn



THÔNG BÁO

hỗ trợ & tư vấn

Văn phòng tổng hợp - Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin

Hotline: 02053.716.910

Bản đồ trung tâm

Lịch tiếp dân

bộ đếm truy cập


Đầu trang