VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Lạng Sơn 0 Lạng Sơn 1 Lạng Sơn 2 Lạng Sơn 5 Lạng Sơn 7

Trao đổi nghiệp vụ

Đình chỉ điều tra theo quy định của BLTTHS năm 2015

Cập nhật: 14-03-2018 | Trao đổi nghiệp vụ | Lượt xem: 12843

    Đình chỉ điều tra là một trong hai hình thức kết thúc hoạt động điều tra khi có những lý do và căn cứ theo quy định của pháp luật.

      Bộ luật Tố tụng hình sự quy định các trường hợp Cơ quan Điều tra quyết định đình chỉ điều tra tại Khoản 1 Điều 230, cụ thể như sau:

     “1. Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:

     a) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự;

     b) Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm”.

     Theo quy định trên, trong quá trình điều tra vụ án Cơ quan Điều tra phải ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp sau:

     Thứ nhất, là trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì khi người đã có yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố và việc rút yêu cầu này hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, cưỡng bức.

     Thứ hai, Trường hợp quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự căn cứ kết quả quá trình điều tra xác định được vụ việc thuộc trường hợp không được khởi tố vụ án hình sự.

     Thứ ba, Trường hợp quy định tại Điều 19 hoặc Điều 29 hoặc Khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự ( những trường hợp người phạm tội thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự).

     Thứ tư, Đã hết thời hạn điều tra nhưng cơ quan điều tra không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

     Những quy định về đình chỉ điều tra trong giai đoạn điều tra quy định tại Điềm a Khoản 1 Điều 230 cũng tương tự quy định về đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố quy định tại Khoản 1 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự.

     Các quy định tại Khoản 1 Điều 230 phù hợp đối với trường hợp đình chỉ điều tra đối với bị can; tương tự như vậy trong giai đoạn truy tố thì vụ án nào cũng có bị can nên các quy định tại Điều 248 là phù hợp. Nhưng trong giai đoạn điều tra có một số vụ án chưa xác định được bị can nên các quy định như tại Khoản 1 Điều 230 là chưa phù hợp. Bởi đối với vụ án không có bị can thì Cơ quan Điều tra chỉ ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án mà không có quyết định đình chỉ điều tra bị can.

     Hiện nay ở rất nhiều địa phương cũng đang có những vụ án tương tự, không chỉ là những vụ án vi phạm về pháo mà còn có các vụ án về xâm phạm sở hữu, xâm phạm sức khỏe, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự xã hội v.v.. mà pháp luật hình sự đã có sự thay đổi theo hướng tăng lên về mặt cấu thành tội phạm hoặc một số hành vi trước đây bị coi là tội phạm nhưng nay không bị coi là tội phạm nữa. Việc Cơ quan Điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra là đúng quy định của pháp luật, nhưng căn cứ để áp dụng cho quyết định đình chỉ điều tra theo Khoản 1 Điều 230 thì chưa có; như phần nêu ở trên Khoản 1 Điều 230 không quy định trường hợp đình chỉ điều tra vụ án do có sự thay đổi của chính sách pháp luật.

     Do vậy, quan điểm của cá nhân tác giả trong các căn cứ đình chỉ điều tra quy định tại Khoản 1 Điều 230 nên bổ sung trường hợp đình chỉ điều tra với lý do chuyển biến của tình hình mà hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội. Việc bổ sung thêm quy định này sẽ góp phần khắc phục những vướng mắc đối với trường hợp đình chỉ điều tra vụ án mà không xác định được bị can như đã nêu ở trên. Bài viết là quan điểm của cá nhân tác giả mong nhận được những ý kiến trao đổi, đóng góp, phản hồi của các đồng chí, đồng nghiệp và quý độc giả./.

Phạm Văn Tiến – Phòng Thanh tra



THÔNG BÁO

hỗ trợ & tư vấn

Văn phòng tổng hợp - Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin

Hotline: 02053.716.910

Bản đồ trung tâm

Lịch tiếp dân

bộ đếm truy cập


Đầu trang