VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Lạng Sơn 0 Lạng Sơn 1 Lạng Sơn 2 Lạng Sơn 5 Lạng Sơn 7

NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT

Nhận thức và áp dụng biện pháp điều tra đối chất trong việc điều tra giải quyết vụ án hình sự

Cập nhật: 11-05-2020 | NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT | Lượt xem: 334

      Đối chất là biện pháp điều tra theo tố tụng hình sự được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên thực hiện dưới hình thức cho hai hay nhiều người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự đã được khởi tố, cùng một lúc tham gia tranh luận và chất vấn lẫn nhau dưới sự hướng dẫn trực tiếp của người tiến hành tố tụng nhằm làm rõ những tình tiết mâu thuẫn trong lời khai trước đó của họ, qua đó xác định tính đúng đắn trong lời khai giữa hai hay nhiều người để tìm ra sự thật của vụ án. Thực tiễn giải quyết án cho thấy, việc nhận thức và áp dụng biện pháp đối chất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng còn có những quan điểm khác nhau, không thống nhất; quan điểm khác nhau phổ biến nhất trong những vụ án cụ thể là có cần thiết phải tiến hành đối chất hay không? Đây là cơ sở thực tiễn đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu để có nhận thức đúng và thống nhất đối với biện pháp đối chất với tư cách là một hoạt động điều tra theo tố tụng hình sự.

      Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “1. Trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối chất. Trước khi tiến hành đối chất, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc đối chất. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản đối chất.”. Như vậy, theo quy định nêu trên thì chỉ tiến hành đối chất khi thỏa mãn cả hai điều kiện: (1) có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người và (2) đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn. Quy định này có thể hiểu là, không phải có mâu thuẫn là tiến hành đối chất, mà trước tiên phải tiến hành các biện pháp điều tra khác để giải quyết mâu thuẫn, nếu thông qua các biện pháp điều tra có đủ căn cứ để khẳng định các tình tiết có mâu thuẫn của vụ án đã được giải quyết thì không tiến hành đối chất, trường hợp đã thực hiện các biện pháp điều tra khác mà không giải quyết được mâu thuẫn thì mới tiến hành đối chất, vì vậy có thể nói: Đối chất là biện pháp điều tra cuối cùng.

      Vậy đối chất là biện pháp điều tra được áp dụng trong trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người tham gia tố tụng hình sự, điều này có nghĩa là đối chất chỉ có thể được tiến hành giữa những người có tư cách là người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự được khởi tố và đồng thời phải là những người đã có lời khai về các tình tiết của vụ án, không thể có đối chất giữa những người chưa có lời khai hoặc những người không buộc phải khai báo trước các cơ quan tiến hành tố tụng. Về vấn đề này còn có quan điểm nhận thức không thống nhất, ví dụ: trong vụ án ma túy, bị can A không khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng các bị can khác và các đối tượng liên quan khai bị can A có thực hiện hành vi phạm tội. Trong trường hợp này có quan điểm cho rằng cần phải tiến hành đối chất giữa bị can A với các bị can khác và các đối tượng liên quan. Quan điểm của tác giả bài viết thấy rằng tình huống nêu trên không thuộc trường hợp phải tiến hành đối chất, vì bị can A không khai nhận hành vi phạm tội của mình cần được xác định là không có lời khai của bị can A về các tình tiết của vụ án nên không có cơ sở để tiến hành đối chất theo quy định; trường hợp này cũng đồng nghĩa với việc bị can không khai báo, bị can im lặng nên không thuộc trường hợp phải tiến hành đối chất.

      Ngoài ra cũng cần lưu ý một số quy định và trường hợp không tiến hành đối chất hoặc hạn chế đối chất, tại khoản 6 Điều 421 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ tiến hành đối chất giữa bị hại là người dưới 18 tuổi với bị can, bị cáo để làm sáng tỏ tình tiết của vụ án trong trường hợp nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án.”. Theo quy định này thì đối với những vụ án có bị hại là người dưới 18 tuổi, không phải tất cả những tình tiết có mâu thuẫn giữa lời khai của bị hại với bị can và đã tiến hành các biện pháp điều tra khác vẫn không giải quyết được thì đều phải đối chất, mà chỉ tiến hành đối chất đối với những tình tiết, những vấn đề mâu thuẫn có tính quyết định để giải quyết vụ án, nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án. Đối với các vụ án xâm hại tình dục trẻ em thì không tiến hành đối chất giữa người bị hại là trẻ em với bị can để làm sáng tỏ tình tiết của vụ án1 vì trẻ em là bị hại trong những vụ án này đã bị tổn thương nặng nề về tâm lý, nếu cho trẻ em đối chất với bị can thì sẽ tiếp tục gây tổn thương về tâm lý cho trẻ em. "Trong trường hợp bắt buộc phải tiến hành đối chất vì không thể kiểm chứng qua các nguồn chứng cứ khác thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên áp dụng biện pháp bảo vệ người bị hại trong quá trình đối chất; không để người bị hại và bị can trực tiếp tiếp xúc với nhau, theo đó có thể sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin để thực hiện đối chất (ví dụ: làm việc trực tuyến)"2. Ngoài ra, đối với những vụ án nếu xét thấy việc đối chất có thể hoặc sẽ ảnh hưởng xấu đến việc giải quyết vụ án thì cũng không tiến hành đối chất, ví dụ: Trong một vụ án ma túy, bị can A là con của bị can C, bị can B là em của bị can C; các bị can A, B khai bị can C đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, còn bị can C chỉ khai nhận một lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy và bị bắt quả tang, trong trường hợp này nếu cho bị can C đối chất với các bị can A, B thì có thể các bị can A, B thay đổi lời khai về hành vi phạm tội của bị can C vì giữa các bị can có quan hệ huyết thống, tình cảm gia đình.

      Các tình tiết, vấn đề mâu thuẫn cần phải đối chất đó là sự trái ngược nhau, phủ định lẫn nhau giữa những lời khai mang nội dung thông tin về cùng một hoặc một số tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án. Trong một vụ án hình sự có thể có rất nhiều tình tiết mà lời khai của những người tham gia tố tụng mâu thuẫn với nhau, nhưng không phải tất cả các tình tiết mâu thuẫn đều tiến hành đối chất, mà chỉ tiến hành đối chất về những tình tiết thuộc vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự theo quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự. Ví dụ: bị can A và bị can B đi xe khách từ Hải Phòng đến thành phố Lạng Sơn rồi cùng phạm tội cố ý gây thương tích, bị can A và bị can B khai mâu thuẫn với nhau về biển số và loại xe ô tô khách đã đi, trong trường hợp này không cần phải tiến hành đối chất vì tình tiết có mâu thuẫn nêu trên chỉ là diễn biễn của vụ án mà không phải là tình tiết có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án.

      Một vấn đề nữa cũng cần lưu ý, đó là: các tình tiết của vụ án có mâu thuẫn và đã tiến hành các biện pháp điều tra khác để giải quyết, nhưng đã giải quyết được hay chưa giải quyết được mâu thuẫn thì trong nhiều vụ án quan điểm giữa những người tiến hành tố tụng và giữa các cơ quan tiến hành tố tụng còn chưa thống nhất, vì đây là vấn đề đánh giá chứng cứ nên quan điểm đánh giá chứng cứ là khác nhau, nếu đánh giá đủ căn cứ để giải quyết mâu thuẫn thì không cần phải tiến hành đối chất, nếu chưa đủ căn cứ để giải quyết mâu thuẫn thì phải tiến hành đối chất. Ví dụ: Trong một vụ án ma túy, các đối tượng nghiện và các bị can khác khai phù hợp với nhau về việc bị can A nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nhưng bị can A khai chỉ được một lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, trong trường hợp này mặc dù lời khai của bị can A và lời khai của các đối tượng khác có mâu thuẫn với nhau về tình tiết phạm tội nhiều lần hay một lần, nhưng căn cứ các biện pháp điều tra khác (lời khai của các bị can và đối tượng khác) đủ căn cứ để khẳng định bị can A phạm tội nhiều lần, do đó không thuộc trường hợp phải tiến hành đối chất theo quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự.

      Thực tế giải quyết án cho thấy, biện pháp đối chất chỉ đạt hiệu quả trong trường hợp những người tham gia đối chất không có xung đột lợi ích, không có quan hệ gia đình, họ hàng, bạn bè, không cố tình che dấu về các tình tiết của vụ án, việc khai mâu thuẫn về các tình tiết của vụ án là do khả năng tri giác, ghi nhớ của những người tham gia đối chất khác nhau, trong trường hợp này, Điều tra viên và Kiểm sát viên chỉ cần có cách thức tác động phù hợp để những người tham gia đối chất nhớ lại chính xác về các tình tiết của vụ án. Thông thường các vụ án thuộc trường hợp phải tiến hành đối chất thì một trong các đối tượng tham gia đối chất cố tình che dấu thông tin về các tình tiết của vụ án, trong trường hợp này thì Điều tra viên, Kiểm sát viên phải đưa ra tài liệu, chứng cứ để đấu tranh thì việc đối chất mới có hiệu quả; trong quá trình cho các đối tượng tham gia đối chất trình bày ý kiến, hỏi lẫn nhau và tranh luận với nhau, Điều tra viên và Kiểm sát viên cần phải quan sát thái độ, biểu hiện tâm lý...của các đối tượng tham gia đối chất để đánh giá lời khai nào là đúng, lời khai nào gian dối, từ đó có niềm tin nội tâm để thu thập, củng cố các tài liệu, chứng cứ đảm bảo tính chính xác, đúng đắn và khách quan.

      Một vấn đề nữa cũng cần thấy rằng: Theo quy định tại các Điều 245, 280 Bộ luật Tố tụng hình sự và Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017, quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thì việc không tiến hành đối chất không phải là căn cứ để trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung; đối với các tình tiết, vấn đề của vụ án có mâu thuẫn và thuộc trường hợp cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự, nếu Viện kiểm sát và Tòa án xét thấy còn thiếu chứng cứ để chứng minh thì có thể trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhưng phải nêu cụ thể là thiếu chứng cứ gì.

      Việc nhận thức đúng và đầy đủ về biện pháp đối chất được quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt lý luận cũng như thực tiễn, có nhận thức đúng thì việc áp dụng mới đem lại hiệu quả cho việc giải quyết vụ án, nếu nhận thức không đúng thì dẫn đến việc áp dụng tùy tiện, hình thức “đối phó” theo kiểu “có còn hơn không, thừa còn hơn thiếu”, gây tốn kém về thời gian và công sức cho những người tiến hành tố tụng./.

Nguyễn Tuấn Anh – Phòng 2 VKSND tỉnh Lạng Sơn 

1,2 - Sổ tay kiểm sát viên Giải quyết vụ án xâm hại tình dục trẻ em của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2019), tr79.



THÔNG BÁO

hỗ trợ & tư vấn

Văn phòng tổng hợp

Hotline: 02053.716.910

Bản đồ trung tâm

Lịch tiếp dân

bộ đếm truy cập


Đầu trang