VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Lạng Sơn 0 Lạng Sơn 1 Lạng Sơn 2 Lạng Sơn 5 Lạng Sơn 7

NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT

Khó khăn trong việc kiểm sát Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản theo Luật phá sản 2014

Cập nhật: 28-02-2019 | NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT | Lượt xem: 1266

      Theo quy định tại Điều 21 Luật phá sản năm 2014, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong quá trình giải quyết phá sản. Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản là một quyết định rất quan trọng của Tòa án và có thể bị Viện kiểm sát kháng nghị. Cụ thể tại Khoản 1 Điều 44 của Luật quy định: 

       “Điều 44. Giải quyết đề nghị xem xét lại, kháng nghị quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản

      1. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, người tham gia thủ tục phá sản có quyền đề nghị xem xét lại, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.”
Theo quy định trên Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản của Tòa án cùng cấp. Tuy nhiên, để thực hiện quyền này hiện nay là một khó khăn đối với Viện kiểm sát.

      Theo quy định tại Khoản 1 Điều 40 Luật phá sản, sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Tòa án gửi thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát cùng cấp. Quá trình giải quyết Tòa án quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản và gửi quyết định cho Viện kiểm sát. Như vậy, lúc này Viện kiểm sát chỉ nhận được 02 văn bản do Tòa án gửi gồm Thông báo thụ lý và Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.

      Điều 42 Luật phá sản quy định quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, tại khoản 4 Điều 42 quy định nội dungQuyết định mở thủ tục phá sản:

      “4. Quyết định mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chủ yếu sau:

      a) Ngày, tháng, năm;
      b) Tên của Tòa án nhân dân; họ và tên Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản;
      c) Ngày và số thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; tên, địa chỉ của người làm đơn yêu cầu;
      d) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán;
      đ) Thời gian, địa điểm khai báo của các chủ nợ và hậu quả pháp lý của việc không khai báo.”

      Tại khoản 5 Điều 42 quy định Tòa án nhân dân ra quyết định không mở thủ tục phá sản, tuy nhiên trong điều luật không quy định nội dung Quyết định không mở thủ tục phá sản;

      Như vậy, Luật phá sản không quy định nội dung của Quyết định không mở thủ tục phá sản Tòa án phải nêu những căn cứ để ra các quyết định này. Theo quy định, Thẩm phán được phân công phải nghiên cứu hồ sơ, nếu xác định doanh nghiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán thì phải ra Quyết định mở thủ tục phá sản; trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không mất khả năng thanh toán thì Thẩm phán ra Quyết định không mở thủ tục phá sản; nhưng kết quả nghiên cứu hồ sơ, các phân tích, lập luận của Thẩm phán lại không được thể hiện trong Quyết định.

      Luật không có quy định yêu cầu Tòa án phải gửi hồ sơ vụ việc cho Viện kiểm sát để nghiên cứu xem xét quyết định việc kháng nghị hay không kháng nghị. Như vậy, trên cơ sở 02 tài liệu do Tòa án chuyển thì Viện kiểm sát cùng cấp gần như không thể kiểm sát được tính có căn cứ của Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản; do đó, rất khó khăn trong việc xem xét, quyết định kháng nghị hay không kháng nghị đối với Quyết định này của Tòa án.

      Trong Luật phá sản có quy định trường hợp Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đó là quy định tại Khoản 3 Điều 44. Cụ thể:

      “Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ việc phá sản kèm theo đơn đề nghị xem xét lại, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp chỉ định Tổ Thẩm phán gồm 03 Thẩm phán xem xét, giải quyết đề nghị xem xét lại, kháng nghị và gửi hồ sơ vụ việc phá sản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.”

      Như vậy, chỉ khi Tòa án cấp trên trực tiếp nhận được hồ sơ do Tòa án cấp dưới chuyển lên để giải quyết đề nghị xem xét lại, kháng nghị Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản thì Tòa án cấp trên mới chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu.

      Hiện nay để thực hiện tốt chức năng kiểm sát đối với Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, Viện kiểm sát chỉ có thể quan hệ với Tòa án cùng cấp để mượn và photocopy hồ sơ sau đó nghiên cứu xem xét, nhưng đây chỉ là biện pháp tình thế và còn một số hạn chế, như:

      Thứ nhất, Viện kiểm sát chỉ biết Tòa án ra Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản sau khi đã nhận được Quyết định do Tòa án chuyển nên việc mượn hồ sơ sẽ không đảm bảo tính kịp thời, ngoài ra hồ sơ thường rất phức tạp, có những tài liệu chuyên sâu về tài chính, kế toán mà Kiểm sát viên phải cần thời gian để nghiên cứu mới có thể nắm được.

      Thứ hai, trường hợp Tòa án không muốn tạo điều kiện cho Viện kiểm sát sẽ nêu ra các lý do để từ chối hoặc đợi đến khi hết thời hạn kháng nghị mới cho Viện kiểm sát mượn hồ sơ, lúc này việc mượn được hồ sơ cũng không còn nhiều ý nghĩa.

      Để thực hiện tốt chức năng kiểm sát Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản; quan điểm tác giả đề nghị cần có sửa đổi quy định của Luật phá sản trong đó bổ sung các quy định làm rõ nội dung của Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản và Tòa án phải gửi Quyết định cùng hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét theo thẩm quyền. Việc bổ sung quy định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát đồng thời cũng phù hợp với quy định tại Khoản 3 Điều 44 hiện hành.

      Trên đây là quan điểm của cá nhân tác giả về những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn kiểm sát Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản; mong nhận được những ý kiến trao đổi, đóng góp, phản hồi của các đồng chí, đồng nghiệp và quý độc giả./.

Phạm Văn Tiến – Viện KSND huyện Hữu Lũng



THÔNG BÁO

hỗ trợ & tư vấn

Văn phòng tổng hợp - Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin

Hotline: 02053.716.910

Bản đồ trung tâm

Lịch tiếp dân

bộ đếm truy cập


Đầu trang