VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Lạng Sơn 0 Lạng Sơn 1 Lạng Sơn 2 Lạng Sơn 5 Lạng Sơn 7

Kiểm sát viên viết

Bàn về kỹ năng kiểm sát bản án, quyết định giải quyết án dân sự, hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân

Cập nhật: 19-08-2019 | Kiểm sát viên viết | Lượt xem: 113

      Kiểm sát bản án, quyết định giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình theo quy định khoản 5 Điều 27 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và khoản 8 Điều 4 Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự (Ban hành kèm theo Quyết định số 364/QĐ-VKSTC ngày 02/10/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao gọi tắt là Quy chế 364).

      Trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình,trọng tâm là phát hiện vi phạm trong các bản án, quyết định giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình của Tòa án, trên cơ sở đó ban hành kiến nghị, kháng nghị yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm, nhằm đảm bảo các bản án, quyết định có căn cứ, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, pháp luật được thực hiện thống nhất.

      Trong thời gian qua, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp(tỉnh, huyện) chú trọng, quan tâm và đề ra giải pháp để nâng cao chất lượng công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, đã qua đó phát hiện nhiều bản án, quyết định có vi phạm và ban hành nhiều kiến nghị, kháng nghị đối với vi phạm, thiếu sót của Tòa án.

      Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, trong công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án có phần chưa đáp ứng được nhiệm vụ, yêu cầu của Ngành, khi kiểm sát một số bản án, quyết định chưa phát hiện hết vi phạm để thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị, số vụ án bị Tòa án cấp phúc thẩm sửa, hủy vẫn còn cao.

      Trước vấn đề nêu trên, để nâng cao chất lượng công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, trong phạm vi bài viết "Bàn về một số kỹ năng kiểm sát bản án, quyết định giải quyết án dân sự, hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân" để các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức làm công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình cùng nghiên cứu và trao đổi.

      Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, phạm vi kiểm sát bản án, quyết định theo thẩm quyền của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh, huyện bao gồm: Bản án, quyết định của Tòa án giải quyết theo thủ tục sơ thẩm và bản án, quyết định Tòa án giải quyết theo thủ tục phúc thẩm do có kháng cáo của đương sự và kháng nghị của Viện kiểm sát.

      I. KỸ NĂNG KIỂM SÁT BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ, HÔN NHÂN GIA ĐÌNH SƠ THẨM

      Trong giai đoạn sơ thẩm, Viện kiểm sát thực hiện quyền kiểm sát đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án và bản án sơ thẩm.

      1. Kỹ năng kiểm sát quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

      1.1 Kiểm sát về hình thức: Trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau trước khi mở phiên tòa: Quyết định phải được ban hành đúng theo Mẫu số 38 ban hành theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 01); Trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau sau khi mở phiên tòa: Quyết định phải được ban hành đúng theo Mẫu số 39 ban hành theo Nghị quyết số 01.

      1.2. Kiểm sát về thủ tục tố tụng:

       - Việc chấp hành pháp luật về thời hạn gửi: Đảm bảo trong thời hạn 05 làm việc ngày, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, theo quy định tại Khoản 1 Điều 212 BLTTDS.

      - Kiểm sát về thời hạn Tòa án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự:Trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau trước khi mở phiên tòa: Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán ra Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự, theo quy định tại khoản 1 Điều 212 BLTTDS; Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau tại phiên tòa xét xử sơ thẩm: Hội đồng xét xử ra ngay quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án mà không cần chờ sau 07 ngày như việc hoà giải ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, theo quy định tại Điều 246 BLTTDS.

      - Kiểm sát về thẩm quyền ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự:Trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán ra Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự, theo quy định tại Điều 212 BLTTDS); Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau tại phiên tòa xét xử sơ thẩm thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự, theo quy định tại Điều 246.

      1.3. Kiểm sát về nội dung của quyết định: Trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau trước khi mở phiên tòa: Quyết định phải ghi đầy đủ, lần lượt các thoả thuận của các đương sự về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án đã được thể hiện trong biên bản hoà giải thành (kể cả án phí).Cần chú ý việc thỏa thuận của đương sự đã phù hợp quy định của pháp luật chưa, có làm thiệt hại đến quyền lợi của người thứ ba không? Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phải phát biểu và đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm; kiểm sát nội dung các thỏa thuận của đương sự trong Quyết định có thể hiện đầy đủ, đúng các thỏa thuận của đương sự tại phiên tòa hay không?

      - Kiểm sát về căn cứ pháp lý và phần quyết định công nhận trong quyết định của Tòa án có phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành. Có đảm bảo đúng quy định của nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự.

      - Kiểm sát việc Tòa án công nhận thỏa thuận của các đương sự về nghĩa vụ chịu án phí có phù hợp với quy định của pháp luật.

      Trong quá trình kiểm sát, nếu có căn cứ (bằng các tài liệu, chứng cứ hợp pháp) cho rằng sự thỏa thuận đó do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc nếu việc ra quyết định không đúng thời hạn, trình tự, thủ tục quy định tại Điều 212 BLTTDS thì Kiểm sát viên phải báo cáo với Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

       2. Kỹ năng kiểm sát quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

      2.1. Kiểm sát về hình thức: Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án trước khi mở phiên tòa: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phải đảm bảo đúng theo Mẫu số 45 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01); Trường hợp đình chỉ tại phiên tòa xét xử sơ thẩm: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phải đảm bảo đúng theo Mẫu 46 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01).

      2.2. Kiểm sát về thủ tục tố tụng:

      - Việc chấp hành pháp luật về thời hạn gửi: Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, Tòa án phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp, theo quy định tại khoản 3 Điều 217 BLTTDS.

      - Về thời hạn ra Quyết định: Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án trước khi mở phiên tòa: Căn cứ vào ngày Tòa án thụ lý vụ án được nêu tại phần Quyết định của Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án để kiểm sát việc Thẩm phán ra Quyết định đình chỉ có đảm bảo trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Khoản 1 Điều 203 BLTTDS; Trường hợp đình chỉ tại phiên tòa xét xử sơ thẩm: Căn cứ vào ngày Tòa án thụ lý vụ án và ngày mở phiên tòa xét xử sơ thẩm để kiểm sát HĐXX ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại phiên tòa có đảm bảo thời hạn theo quy định tại Khoản 4 Điều 203 BLTTDS.

      - Về thẩm quyền ra Quyết định: Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, theo quy định tại Khoản 1 Điều 219 BLTTDS; Trường hợp đình chỉ tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, theo quy định tại Khoản 2 Điều 219 BLTTDS.

      2.3. Kiểm sát về nội dung của Quyết định:

      - Kiểm sát căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án: Trường hợp đình chỉ trước khi mở phiên tòa: Cần nghiên cứu kĩ xem lý do để Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thuộc trường hợp nào theo quy định tại Điều 217 BLTTDS hoặc các điều khác của BLTTDS; Trường hợp đình chỉ tại phiên tòa xét xử sơ thẩm: Kiểm sát viên phải nghiên cứu căn cứ đình chỉ trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có đúng với lý do HĐXX nhận định tại phiên tòa, theo quy định tại Khoản 2 Điều 219 BLTTDS.

      - Kiểm sát việc Tòa án tuyên về hậu quả của việc đình chỉ theo quy định tại Điều 218 BLTTDS (kể cả hậu quả về tiền tạm ứng án phí, chi phí tố tụng).

      - Kiểm sát việc Tòa án tuyên quyền kháng cáo có đúng quy định tại Điều 271, Khoản 2 Điều 273 BLTTDS; quyền kháng nghị có đúng quy định tại Điều 278, Khoản 2 Điều 280 BLTTDS.

      3. Kỹ năng kiểm sát bản án sơ thẩm

      Bản án sơ thẩm là kết quả Hội đồng xét xử ra bản án tuyên chấp nhận hoặc không chấp nhận toàn bộ hoặc một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình. Hoạt động kiểm sát bản án sơ thẩm là hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong việc thụ lý, xét xử và tuyên bản án.

      3.1. Kiểm sát về hình thức: Bản án sơ thẩm được ban hành theo quy định tại Mẫu số 52 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01), bản án phải thể hiện đầy đủ số bản án, ngày, tháng năm ban hành, được ký tên, đóng dấu theo quy định.

      3.2. Kiểm sát về thời hạn gửi:Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp theo quy định tại khoản 2 Điều 269 BLTTDS.

      3.3. Kiểm sát về nội dung:

      - Về thẩm quyền xét xử của vụ án: Căn cứ quan hệ tranh chấp, nơi bị đơn cư trú, làm việc, nơi có bất động sản tranh chấp hoặc sự thỏa thuận của các đương sự (nếu có) để kiểm sát Tòa án giải quyết vụ án đã đúng thẩm quyền, theo quy định tại các Điều 35, 37, 39 BLTTDS.

      - Kiểm sát thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm có mặt tại phiên tòa có đúng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử không?

      - Kiểm sát thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn mở phiên tòa: Căn cứ ngày, tháng, năm Tòa án thụ lý vụ án để kiểm sát thời hạn Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm có đúng theo quy định tại Khoản 1 Điều 203 BLTTDS. Thời hạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm có đảm bảo thời hạn theo quy định tại Khoản 4 Điều 203 BLTTDS.

      - Việc xác định quan hệ tranh chấp của Tòa án: Trên cơ sở nội dung trình bày của các đương sự tại phần Nhận thấy của Bản án để đánh giá quan hệ tranh chấp mà Tòa án đã xác định có đúng quy định của BLTTDS, nội dung các quan hệ tranh chấp được quy định cụ thể tại các Điều 26, Điều 28, Điều 30, Điều 32 BLTTDS.

      - Kiểm sát về phạm vi khởi kiện, việc xác định tư cách của người tham gia tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện được thể hiện tại phần Nhận thấy của bản án, phải xác định được vấn đề đương sự khởi kiện yêu cầu giải quyết trong đơn, yêu cầu đó có được khởi kiện, địa vị pháp lý và tư cách của những người tham gia tố tụng? Các đương sự có đủ năng lực hành vi dân sự không? Phạm vi khởi kiện đến đâu, họ yêu cầu giải quyết những nội dung gì? Toà án có đưa đầy đủ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng hay không? Đối với vụ án dân sự thường có các cá nhân, cơ quan, tổ chức cùng liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ khác nhau... tất cả những nội dung đó phải được xác định rõ ngay từ đầu, có như vậy mới đảm bảo việc thụ lý và giải quyết vụ án của Toà án là chính xác.

      - Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng (Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo ủy quyền, người làm chứng, người thừa kế quyền nghĩa vụ tố tụng của các đương sự…): Đã đúng và đủ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử chưa; Trường hợp triệu tập hợp lệ lần thứ nhất vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa trừ trường hợp vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Trong trường hợp vắng mặt đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 228 BLTTDS.

      - Kiểm sát phần nội dung của bản án:

      Kiểm sát yêu cầu của đương sự, yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì: Yêu cầu của nguyên đơn; yêu cầu phản tố của bị đơn; yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Những yêu cầu này có thuộc phạm vi của đương sự? được Tòa án thụ lý theo quy định hay không; các tài liệu, chứng cứ liên quan để chứng minh cho yêu cầu của các đương sự; phát biểu của Viện kiểm sát về các tình tiết, những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh trong bản án, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải phân tích, lập luận đầy đủ, chi tiết.

      - Kiểm sát phần Nhận định của bản án:

      Kiểm sát nhận định của bản án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung), Tòa án có nhận định phân tích từng vấn đề mà đương sự yêu cầu giải quyết hay không, yêu cầu nào của đương sự là có căn cứ, không có căn cứ, phù hợp hay không phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ và các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Nhận định của Tòa án có phù hợp với ý kiến của Viện kiểm sát (đối với trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa), quan điểm của Luật sư (nếu có) không?

      - Kiểm sát phần Quyết định của bản án:

      Về áp dụng căn cứ pháp luật để quyết định trong bản án: Trong từng vụ án cụ thể, Kiểm sát viên phải làm rõ nội dung tranh chấp đó được áp dụng theo quy định pháp luật nào (Bộ luật dân sự, Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật hôn nhân và gia đình, Luật thương mại, Bộ luật lao động…và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành của Bộ luật, Luật) để kiểm sát việc Tòa án áp dụng các căn cứ pháp luật giải quyết vụ án đúng hay sai.

      Kiểm sát việc quyết định của Bản án có tuyên hết nội dung các yêu cầu của đương sự không?

     Kiểm sát việc quyết định án phí, chi phí tố tụng: Đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 147 BLTTDS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sửa dụng án phí và lệ phí Tòa án.

      Kiểm sát việc Tòa án tuyên quyền kháng cáo có đúng quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS, quyền kháng nghị có đúng quy định tại Điều 278 và khoản 1 Điều 280 BLTTDS.

      Quyết định của bản án là nội dung quan trọng nhất của bản án, khi kiểm sát phần Quyết định của bản án, Kiểm sát viên phải đối chiếu việc phân tích chứng cứ, nhận định trong nội dung nhận thấy đã đủ cơ sở để Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của đương sự; quyết định có vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập không; có gây thiệt hại về quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự nào không...

      Trong ba phần trên, khi kiểm sát cần đặc biệt lưu ý nghiên cứu, đối chiếu giữa phần Nhận thấy, Xét thấy và phần Quyết định có nội dung nào còn thiếu (Nhận định có nhưng không được thể hiện trong phần Quyết định, hoặc ngược lại có trong phần Quyết định nhưng lại không có trong phần Nhận định); bản án được tuyên rõ ràng hay không, thực tế có thể thi hành án được hay không? Ngoài ra, cần xem xét Toà án đã giải quyết hết các yêu cầu của nguyên đơn hoặc phản tố của bị đơn chưa.

      II. KỸ NĂNG KIỂM SÁT ĐỐI VỚI BẢN ÁN , QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH PHÚC THẨM

      Trong giai đoạn phúc thẩm, Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định giải quyết kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, bản án phúc thẩm.

      1. Kỹ năng kiểm sát quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

      1.1. Kiểm sát về hình thức:

      Trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử: Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm phải đảm bảo đúng theo Mẫu số 69 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01); Trường hợp đình chỉ xét xử phúc thẩm sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm hoặc tại phiên tòa xét xử phúc thẩm:Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm phải đảm bảo đúng theo Mẫu số 70 ban hành kèm theo Nghị quyết số 01.

      1.2. Kiểm sát về thủ tục tố tụng:

      - Việc chấp hành pháp luật về thời hạn gửi: Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 4 Điều 289 BLTTDS.

      - Kiểm sát về thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự: Trường hợp đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa xét xử phúc thẩm: Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, theo quy định tại Khoản 2 Điều 289 BLTTDS; Trường hợp đình chỉ xét xử phúc thẩm sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm hoặc tại phiên tòa xét xử phúc thẩm: Hội đồng xét xử phúc thẩm có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, theo quy định tại Khoản 2 Điều 289 BLTTDS.

      - Về thời hạn ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự: Trường hợp đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa xét xử phúc thẩm: Kiểm sát việc Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm được Thẩm phán ra có đảm bảo trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Khoản 1 Điều 286 BLTTDS; Trường hợp đình chỉ xét xử phúc thẩm sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm hoặc tại phiên tòa xét xử phúc thẩm: HĐXX phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm tại phiên tòa, phiên tòa phải được mở trong thời hạn theo quy định tại Khoản 2 Điều 286 BLTTDS.

      1.3. Kiểm sát về nội dung quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

      Kiểm sát căn cứ đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự hoặc một phần vụ án dân sự theo quy định tại Điều 289 BLTTDS. Khi kiểm sát các quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên phải xem xét Tòa án ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm theo căn cứ quy định tại điểm, khoản nào của Điều 289 BLTTDS; các tài liệu, chứng cứ kèm theo để xác định căn cứ Tòa án ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự; nếu phát hiện vi phạm một trong các căn cứ quy định tại Điều 289 BLTTDS, Kiểm sát viên phải lập Báo cáo nội dung vi phạm và các căn cứ để kháng nghị phúc thẩm đối với quyết định đó. Nội dung đề nghị kháng nghị là hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án; không đề nghị hủy một phần hoặc sửa quyết định đình chỉ vụ án. Nếu mức độ vi phạm không đến mức phải kháng nghị thì báo cáo lãnh đạo Viện kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm.

      2. Kỹ năng kiểm sát quyết định giải quyết kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

      2.1. Kiểm sát về hình thức: Quyết định giải quyết việc kháng cáo (kháng nghị) đối với quyết định tạm đình chỉ (đình chỉ) giải quyết vụ án phải đảm bảo theo đúng mẫu số 72 (Ban hành kèm theo Nghị quyết 01).

      2.2. Việc chấp hành pháp luật về thời hạn gửi: Quyết định phải được gửi cho Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra Quyết định phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 315 BLTTDS.

      2.3. Kiểm sát nội dung quyết định:

      - Kiểm sát thành phần Hội đồng phiên họp phúc thẩm: Hội đồng phiên họp giải quyết việc kháng cáo (kháng nghị) gồm ba Thẩm phán theo quy định tại Điều 64 BLTTDS, tên các thành viên Hội đồng có mặt tại phiên họp có đúng theo Quyết định mở phiên họp không?

      - Kiểm sát thời hạn mở phiên họp phúc thẩm có đảm bảo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án có quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

      - Kiểm sát phần nhận định của Quyết định: Kiểm sát việc hội đồng phúc thẩm nhận định, phân tích về các lý do của kháng cáo, kháng nghị, những căn cứ chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị.

      - Kiểm sát phần Quyết định: Kiểm sát Quyết định của Hội đồng phúc thẩm theo một trong các trường hợp quy định tại khoản 5, Điều 314 BLTTDS; Kiểm sát việc Quyết định về án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 BLTTDS nếu thuộc trường hợp phải nộp án phí phúc thẩm thì ghi rõ trong quyết định số tiền phải nộp là bao nhiêu; Nếu thuộc trường hợp không phải nộp (hoặc được miễn) tiền án phí phúc thẩm thì ghi rõ không phải nộp (hoặc được miễn) tiền án phí phúc thẩm. Ghi rõ quyết định hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

      3. Kỹ năng kiểm sát bản án phúc thẩm

      3.1. Kiểm sát về hình thức: Bản án phúc thẩm phải đảm bảo đúng theo Mẫu số 75 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01).

     3.2. Việc chấp hành pháp luật về thời hạn gửi: Bản án phúc thẩm phải được gửi cho Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra bản án phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 315 BLTTDS.

      3.3. Kiểm sát nội dung bản án:

      - Kiểm sát thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm: Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự gồm ba Thẩm phán theo quy định tại Điều 64 BLTTDS, tên các thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm có mặt tại phiên tòa có đúng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm không?

       - Kiểm sát thời hạn ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm có đảm bảo trong thời hạn 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không được quá 01 tháng, theo quy định tại Khoản 1 Điều 286 BLTTDS.

      - Kiểm sát thời hạn mở phiên tòa xét xử phúc thẩm có đảm bảo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng, theo quy định tại Khoản 2 Điều 286 BLTTDS.

      - Kiểm sát sự có mặt những người tham gia phiên tòa xét xử phúc thẩm: Người kháng cáo, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải được triệu tập tham gia phiên tòa, theo quy định tại Khoản 1 Điều 294 BLTTDS. Nếu người kháng cáo, người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ vắng mặt thì căn cứ quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 296 BLTTDS tùy từng trường hợp, Toà án phải hoãn phiên tòa nếu vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm nếu người kháng cáo được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do; Tòa án vẫn xét xử nếu người kháng cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

      - Kiểm sát phần Nội dung của bản án: Thể hiện tóm tắt được nội dung vụ án, nội dung kháng cáo, kháng nghị.

     - Kiểm sát phần Nhận định của bản án: Kiểm sát các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định về kháng cáo, kháng nghị, các tình tiết của vụ án, việc giải quyết, xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm. Kiểm sát được những căn cứ pháp luật mà Tòa án áp dụng để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo của đương sự, kháng nghị của Viện kiểm sát (nếu có). Căn cứ điểm, khoản và điều luật của văn bản quy phạm pháp luật nào để Hội đồng xét xử phúc thẩm giải quyết vụ án. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giải quyết các vấn đề khác có liên quan.

      - Kiểm sát phần Quyết định của bản án: Trong phần Quyết định, phải thể hiện được đầy đủ các các căn cứ pháp luật mà Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng để ra quyết định, quyết định của HĐXX đối với từng vấn đề phải giải quyết của vụ án đã được thể hiện đầy đủ chưa, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí sơ thẩm, phúc thẩm, chi phí tố tụng (nếu có). Trường hợp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì Tòa án phải giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy và ghi rõ trong bản án. Ghi rõ bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Qua kiểm sát bản án, nếu bản án có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đương sự có khiếu nại, Viện kiểm sát báo cáo đề nghị Viện kiểm sát nhân dân cấp cao xem xét kháng nghị giám đốc thẩm.

      Trên đây là một số kỹ năng kiểm sát bản án, quyết định giải quyết án dân sự, hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân mong nhận được đánh giá, đóng góp ý kiến của đồng nghiệp để chuyên đề được hoàn thiện hơn./.

Dương Thu Hải - Phòng 9 Viện KSND tỉnh Lạng Sơn



THÔNG BÁO

hỗ trợ & tư vấn

Văn phòng tổng hợp - Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin

Hotline: 02053.716.910

Bản đồ trung tâm

Lịch tiếp dân

bộ đếm truy cập


Đầu trang