VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Lạng Sơn 0 Lạng Sơn 1 Lạng Sơn 2 Lạng Sơn 5 Lạng Sơn 7

Kiểm sát viên viết

Một số kinh nghiệm trong việc nhận dạng vi phạm của bản án, quyết định dân sự sơ thẩm

Cập nhật: 18-01-2018 | Kiểm sát viên viết | Lượt xem: 1176

    Thông qua công tác kiểm sát tuân theo pháp luật đối với các bản án, quyết định dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm, phát hiện có một số dạng vi phạm cơ bản, điển hình, xin được nêu ra để các đồng nghiệp tham khảo, vận dụng trong hoạt động kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án.

      1. Vi phạm về căn cứ đình chỉ vụ án và giải quyết hậu quả của việc đình chỉ quy định tại các Điều 217, 218 Bộ luật tố tụng dân sự:

     Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 19/2017/QĐST-DS ngày 01/9/2017, về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Ph với bị đơn là Công ty TNHH TKA:

     Trong vụ án này, nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn có yêu cầu phản tố và rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nên Tòa án căn cứ điểm c khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự để đình chỉ vụ án là áp dụng đúng căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án căn cứ tài liệu do các đương sự cung cấp, đó là: “Văn bản thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và các cam kết cá nhân” và “Văn bản hủy hợp đồng mua bán xe ô tô”, để xác định đối tượng khởi kiện của vụ án không còn và căn cứ điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự để đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng quy định của pháp luật, bởi vì: Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự được hiểu là: Các trường hợp mà Bộ luật tố tụng dân sự chưa quy định, nhưng đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Như vậy, quyết định đình chỉ xác định “đối tượng khởi kiện không còn” là các trường hợp khác theo quy định của pháp luật quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng không nêu rõ và cụ thể là được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật nào, việc áp dụng pháp luật như vậy là không có căn cứ.

     Về việc giải quyết hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Quyết định ghi đương sự “không có quyền khởi kiện lại đối với Hợp đồng mua bán xe ô tô…(Do đã thống nhất hủy bỏ)”, ghi như vậy là vi phạm khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự, vì căn cứ để đình chỉ vụ án này là theo điểm c khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự thì đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án; Việc các đương sự “thống nhất hủy bỏ” không phải là căn cứ pháp luật để các đương sự không có quyền khởi kiện lại vụ án.

     2. Vi phạm về việc xác định người đại diện, người giám hộ đối với việc ly hôn:

     Bản án số 14/2017/HNGĐ-ST ngày 01/9/2017, về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung, vay nợ chung”, giữa nguyên đơn là chị Dịch Thị Ch với bị đơn là anh Nông Văn H: Xác định bà Nông Thị S là người đại diện (Giám hộ) cho anh Nông Văn H là không có căn cứ và không đúng quy định của pháp luật, bởi vì: Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/6/2017, anh H trình bày rõ ràng quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Ch về quan hệ hôn nhân, nuôi con chung và vay nợ chung, đồng thời đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt vì lý do không có phương tiện đi lại. Điều này cho thấy anh H là người có năng lực hành vi dân sự. Bà S khai rằng do anh Hô bị ngã nên có biểu hiện về thần kinh, nhưng không có căn cứ để cho rằng anh H bị mất năng lực hành vi dân sự hay có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để phải có người giám hộ theo quy định tại các Điều 22, 23, 46, 47 Bộ luật dân sự và khoản 3 Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình. Theo những quy định nêu trên thì người được giám hộ bao gồm bốn trường hợp, trong đó có trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; Việc xác định một người có bị mất năng lực hành vi dân sự hay có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hay không phải có kết luận giám định pháp y tâm thần và được Tòa án ra quyết định tuyên bố.

     3. Vi phạm trong việc giải quyết khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong vụ án Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe:

     Bản án số 07/2017/DS-ST ngày 25/8/2017, về việc “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và bồi thường thiệt hại tài sản”, giữa nguyên đơn là bà Liễu Thị B với bị đơn là cháu Linh Thị H: Đây là vụ án bà B đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tài sản do hành vi vi phạm về giao thông của cháu H gây ra. Tại phần nhận định của bản án không chấp nhận khoản tiền về tổn thất tinh thần với lý do: “Tổn thất về tinh thần là không lớn vì cháu H không cố ý và bà B cũng không chứng minh tổn thất tinh thần”. Việc bản án không chấp nhận khoản tiền về tổn thất tinh thần với lý do nêu trên là không đúng quy định của pháp luật, vì tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật dân sự quy định: “Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường …một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần…”; Tại điểm b tiểu mục 1.5 mục 1 Phần II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau: “Trong mọi trường hợp, khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần…”.

     4. Vi phạm về việc thụ lý giải quyết, giải quyết không đúng nội dung yêu cầu khởi kiện và về án phí:

     Bản án số 02/2017/DSST ngày 11/5/2017, về: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, công khai xin lỗi”, giữa nguyên đơn là bà Lý Thị Q với bị đơn là bà Hứa Thị E:

     - Bản án sơ thẩm nêu yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Q như sau: “ bà yêu cầu khởi kiện bổ sung buộc bà E phải bồi thường thiệt hại 40.000.000đ do thiệt hại thực tế từ việc không mua đủ số cây vầu theo hợp đồng giữa bà và các bên mua”. Tuy nhiên, tại phần trích yếu của Bản án, xác định quan hệ pháp luật và những nội dung tranh chấp, thì Bản án sơ thẩm không ghi yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản của bà Q nêu trên để giải quyết. Mặc dù vậy, tại phần nhận định của Bản án có phân tích, đánh giá không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản của bà Q, nhưng phần Quyết định của Bản án không tuyên giải quyết đối với yêu cầu này. Như vậy, Tòa án không thụ lý và không giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản của nguyên đơn là giải quyết không hết các yêu cầu khởi kiện, vi phạm Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự.

     - Bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Chủ tịch UBND xã TL phải bồi thường về danh dự, nhân phẩm do ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà không đúng. Tuy nhiên, bà Q yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã bồi thường là không đúng đối tượng, mà trách nhiệm bồi thường là của Ủy ban nhân dân xã, hơn nữa, bà Q cũng chưa thực hiện các trình tự, thủ tục bắt buộc theo quy định của pháp luật để có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Tòa án thụ lý và giải quyết yêu cầu khởi kiện nêu trên của bà Q là không đúng đối tượng và chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật, vi phạm Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự.

     - Bà Q khởi kiện yêu cầu giải quyết buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TL phải xin lỗi công khai về việc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà không đúng quy định, dẫn đến phải hủy và thu hồi. Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm lại ghi nhận đại diện Ủy ban nhân dân xã xin lỗi công khai về việc không gọi bà Q lên Ủy ban nhân dân xã để trao quyết định thu hồi và hủy bỏ quyết định xử phạt hành chính. Giải quyết như vậy là giải quyết không đúng với nội dung yêu cầu của nguyên đơn và nội dung yêu cầu của nguyên đơn chưa được giải quyết, vi phạm Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự.

     - Về án phí: Bản án sơ thẩm nhận định cho rằng, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản xuất phát từ yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm và nằm trong yêu cầu chung, nên không phải chịu án phí là không có căn cứ, bởi vì: Về yêu cầu bồi thường về danhh dự, nhân phẩm, bà Q cho rằng do bà E viết đơn tố cáo, vu khống bà với Công an xã, Công an huyện nên đã gây thiệt hại về danh dự, nhân phẩm cho bà; còn yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản bà Q cho rằng, do bà E tranh mua cây vầu nên bà không mua đủ số cây vầu để bán theo hợp đồng, vì vậy bà bị thiệt hại 40.000.000đ. Như vậy, yêu cầu bồi thường danh dự, nhân phẩm và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản của bà Q là độc lập với nhau, có nội dung tranh chấp khác nhau, hai yêu cầu này có tính liên quan đến nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.

     5. Vi phạm về việc áp dụng án phí:

     - Bản án số 07/2017/HNGĐ-ST ngày 07/9/2017, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, giữa nguyên đơn là chị Ma Thị Th với bị đơn là anh Hà Văn L: Trong vụ án này về tài sản chung và nợ chung các đương sự không có và không yêu cầu giải quyết. Anh L yêu cầu chị Th hoàn trả cho anh 7.000.000đ tiền sính lễ và 2.000.000đ chị Thời lấy của anh. Tại phần quyết định của bản án tuyên bác yêu cầu này của anh L và buộc anh L phải chịu án phí đối với số tiền 9.000.000đ bị bác là không đúng với quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, theo quy định này thì số tiền nêu trên anh L yêu cầu giải quyết không phải là yêu cầu về chia tài sản chung, cũng không phải là yêu cầu hay vấn đề phải giải quyết trong vụ án hôn nhân và gia đình, nên không phải chịu án phí;

     6. Vi phạm về thời hạn ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự:

     Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 32/2017/QĐST-HNGĐ ngày 22/6/2017, giữa nguyên đơn là chị Trương Ánh Ng với anh Nguyễn Hoài N: Biên bản hòa giải thành ngày 15/6/2017, đến ngày 22/6/2017 ra quyết định công nhận.

     Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 37/2017/QĐST-HNGĐ ngày 07/7/2017, giữa nguyên đơn là chị Đào Thị T với anh Lường Thanh Đ: Biên bản hòa giải thành ngày 30/6/2017, đến ngày 07/7/2017 ra quyết định công nhận.

     - Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 62/2017/QĐST-HNGĐ ngày 09/6/2017, giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Th với bị đơn là anh Hoàng Minh T: Ngày 02/6/2017 lập biên bản thuận tình ly hôn và hòa giải thành, đến ngày 09/6/2017 ra quyết định công nhận

     Các quyết định nêu trên, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành đến ngày ra quyết định công nhận là chưa hết thời hạn 07 ngày, vi phạm khoản 1 Điều 212 Bộ luật tố tụng dân sự.

     7. Một số vi phạm khác:

     - Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 06/2017/QĐST-DS ngày 02/6/2017, giữa nguyên đơn là ông Hoàng Văn T với bị đơn là ông Tô Hữu V: Nội dung của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, nhưng không ghi các thông tin địa chính đối với diện tích đất tranh chấp (thửa, tờ bản đồ..) và địa danh, địa chỉ diện tích đất ở đâu. Việc ghi không đầy đủ như trên sẽ gây khó khăn cho việc thi hành án và việc điều chỉnh hồ sơ địa chính.

     - Bản án số 06/2017/HNGĐ-ST ngày 22/8/2017, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, giữa nguyên đơn là chị Hoàng Thị H với bị đơn là anh Lường Văn H: Trong vụ án này nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất giao con cho bị đơn nuôi dưỡng; về cấp dưỡng: nguyên đơn không đồng ý cấp dưỡng vì không có điều kiện, còn bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải cấp dưỡng nuôi con nhưng không đưa ra mức cụ thể. Bản án giải quyết giao con cho bị đơn nuôi dưỡng và buộc nguyên đơn phải cấp dưỡng nuôi con mức 600.000đ/tháng. Thấy rằng, bản án nêu trên ấn định mức cấp dưỡng, nhưng không tiến hành xác minh làm rõ về nghề nghiệp, thu nhập của nguyên đơn, cũng như về thu nhập bình quân tại địa phương… là chưa đảm bảo có đầy đủ căn cứ. Ngoài ra, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại phần quyết định của bản án tuyên công nhận sự thỏa thuận về việc nuôi con chung là không đúng Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự. Hơn nữa, nguyên đơn và bị đơn không thỏa thuận được về quan hệ hôn nhân; nguyên đơn yêu cầu được ly hôn, còn bị đơn yêu cầu được đoàn tụ. Do đó, việc công nhận sự thỏa thuận về nuôi con là không phù hợp.

     - Vi phạm Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự: Bản án số 18/2017/HNGĐ-ST ngày 28/8/2017, về việc Ly hôn, giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Tiến H với bị đơn là chị Hoàng Thị A: Anh H vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt, tuy nhiên, bản án quyết định “Công nhận sự thuận tình ly hôn…” là vi phạm Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự, theo quy định này thì Tòa án chỉ quyết định công nhận sự thỏa thuận khi các đương sự có mặt và thỏa thuận được với nhau tại phiên tòa.

     - Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 146/2017/QĐST-HNGĐ ngày 25/10/2017, giữa nguyên đơn là anh Bùi Văn Ph với bị đơn là chị Hoàng Thị L; Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 189/2017/QĐST-HNGĐ ngày 20/7/2017, giữa nguyên đơn là chị Phạm Thúy Ng với bị đơn là anh Dương Thanh T: Các quyết định nêu trên không ghi thời gian bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ khó khăn cho việc thi hành án; Không ghi về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là vi phạm Điều 357 Bộ luật dân sự.

     Trên đây là một số dạng vi phạm được phát hiện và tổng hợp thông qua hoạt động kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, xin được nêu ra để các đồng nghiệp tham khảo và vận dụng trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình của Tòa án, qua đó tăng cường phát hiện vi phạm để trao đổi với Tòa án khắc phục hoặc kiến nghị, kháng nghị theo thẩm quyền./.

Nguyễn Tuấn Anh- Phòng 9-VKSND tỉnh Lạng Sơn



THÔNG BÁO

hỗ trợ & tư vấn

Văn phòng tổng hợp - Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin

Hotline: 02053.716.910

Bản đồ trung tâm

Lịch tiếp dân

bộ đếm truy cập


Đầu trang