VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Lạng Sơn 0 Lạng Sơn 1 Lạng Sơn 2 Lạng Sơn 5 Lạng Sơn 7

Kiểm sát viên viết

Bàn về kỹ năng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Cập nhật: 30-08-2017 | Kiểm sát viên viết | Lượt xem: 3337

     Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự không chỉ là việc đánh giá kết quả của công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự mà hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự có ý nghĩa quan trọng, quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo về lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân; thể hiện tính nhân văn của hình luật Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng năm 2015.

     Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác đấu tranh, xử lý tội phạm, việc nâng cao kỹ năng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo vệ quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là vô cùng cần thiết, theo tôi, có hai nhóm giải pháp để Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa sơ thẩm có thể học tập, nâng trao trình độ qua hai nhóm giải pháp sau: 

     1. Về công tác quản lý:

     - Có giải pháp để Kiểm sát viên cập nhật, nghiên cứu học tập các quy phạm pháp luật, đặc biệt là các các thông tư hướng dẫn việc áp dụng pháp luật hình sự mới ban hành như: Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề nghiệp vụ để trau dồi kiến thức cho Kiểm sát viên, thông qua sinh hoạt chuyên đề các Kiểm sát viên sẽ cùng nhau trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, kỹ năng thực hành quyền công tố nói chung và kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa hình sự nói riêng. Đây được coi là hình thức trao đổi, học tập, nâng cao năng lực nghiên cứu, tư duy tổng hợp, thông qua các buổi thảo luận chuyên đề, Kiểm sát viên cũng có cơ hội rèn luyện phương pháp thuyết trình một nội dung pháp luật cụ thể.

     - Tổ chức tốt các phiên tòa rút kinh nghiệm nhất là việc rút kinh nghiệm sau phiên tòa, qua đó đánh giá kết quả sau mỗi phiên tòa rút kinh nghiệm một cách nghiêm túc những mặt được và chưa được để hoàn thiện hơn kỹ năng nghiệp vụ trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử hình sự nội dung cũng như việc trình bày bản cáo trạng và luận tội, tham gia tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

     2. Đối với Kiểm sát viên

     - Trong nghiên cứu hồ sơ vụ án: Phải nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách toàn diện, ngoài các đề xuất phê chuẩn các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Kiểm sát viên phải xác định được vụ án đã thu thập được chứng cứ gì, từ nguồn nào, ở đâu; giá trị chứng minh của những chứng cứ đó trong vụ án, còn những chứng cứ nào cần được tiếp tục được thu giữ. Những trường hợp có mâu thuẫn về chứng cứ phải được giải quyết dứt điểm trong quá trình điều tra. Việc thu thập và đánh giá chứng cứ phải chính xác, tuân thủ đúng quy định tại các Điều 86, 87, 88 của Bộ luật Tố tụng hình sưnăm 2015. Trên cơ sở đó đảm bảo cho việc chứng minh tội phạm phải dựa trên nguyên tắc dân chủ, khách quan, đảm bảo quyền con người đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013.

     Việc nghiên cứu hồ sơ phải gắn liền với việc ghi chép (trích cứu), đây là cách để Kiểm sát viên tư duy sâu và bao quát hơn đối với tính toàn diện của vụ án, đề ra yêu cầu điều tra chính xác, góp phần cho việc điều tra vụ án được khách quan, toàn diện và đầy đủ các nội dung cần chứng minh. Đồng thời giúp cho Kiểm sát viên trong quá trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm có được cái nhìn tổng thể các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, chủ động trong việc tra cứu, dẫn trích khi thực hành quyền công tố cũng như việc tranh tụng tại phiên tòa.

     Ngoài việc nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách toàn diện, nhận biết được một cách đầy đủ diễn biến của hành vi phạm tội, đối tượng phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các tình tiết khác có liên quan đến việc xử lý vụ án, để đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên cần phải nắm vững phần lý luận chung về cấu thành tội phạm của các tội phạm cụ thể cũng như các trường hợp đặc thù được quy định tại Chương III (phần các tội phạm và Chương IV (những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự) trong Bộ luật Hình sự năm 2015….Đặc biệt là các chế định về: Cố ý phạm tội (Điều 10), Vô ý phạm tội (Điều 11), chuẩn bị phạm tội (Điều 14), tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 16), đồng phạm (Điều 17), sự kiện bất ngờ (Điều 20), phòng vệ chính đáng (Điều 22), tình thế cấp thiết (Điều 23) của Bộ luật hình sự năm 2015 và các quy định khác của pháp luật về trách nhiệm hình sự, cá thể hóa trách nhiệm hình sự, án tích và xóa án tích; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại phần chung của Bộ luật Hình sự năm 2015.

     Thực tiễn, trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, Luật sư thường đề cập đến việc thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm của Cơ quan điều tra như: Thu thập chưa hết, chưa đầy đủ, đánh giá chưa đúng, chưa chính xác về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi do bị cáo gây ra hoặc khái niệm tội phạm, những chế định về nguyên tắc áp dụng hình phạt để tranh luận với Kiểm sát viên và bảo vệ thân chủ của mình. Nếu Kiểm sát viên không nắm vững các chế định trên để phân tích, đối đáp sẽ dẫn đến lúng túng, bị động, không tranh tụng được hoặc tranh tụng không vào trọng tâm, thiếu căn cứ pháp lý và tính thuyết phục không cao.

     Do vậy, có thể nói: Việc kiểm sát chặt chẽ các hoạt động điều tra vụ án hình sự trong quá trình kiểm sát điều tra vụ án hình sự chính là bước chuẩn bị ban đầu để Kiểm sát viên có đủ điều kiện tham gia tranh tụng tại phiên tòa và có trách nhiệm cùng Hội đồng xét xử làm rõ mọi tình tiết, áp dụng đúng pháp luật để giải quyết vụ án một cách khách quan, công bằng, nghiêm minh, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

     Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự: Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải tuân thủ đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại các Điều 306, 307, 321, 322 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, gồm: Công bố bản cáo trạng, tham gia xét hỏi, thực hiện việc luận tội đối với bị cáo, tranh luận tại phiên tòa. Do đó, Kiểm sát viên phải có phương án thực hiện các nhiệm vụ của mình một cách linh hoạt, phù hợp với từng vụ án cụ thể.

     Trước phiên tòa: Phải chuẩn bị kỹ đề cương xét hỏi để xác định rõ về hành vi phạm tội, thời gian, địa điểm, động cơ, mục đích, hậu quả, công cụ, phương tiện phạm tội, thủ đoạn của tội phạm. Đồng thời dự kiến những tình huống, diễn biến có thể xảy ra tại phiên tòa như thái độ tâm lý, khả năng phản cung của bị cáo, thay đổi lời khai của người tham gia tố tụng; chủ động chuẩn bị tài liệu, chứng cứ đưa ra để chứng minh cũng như những vấn đề mà người bào chữa hoặc bị cáo quan tâm để đặt câu hỏi làm sáng tỏ nội dung vụ án và xây dựng kịch bản tranh luận, dự thảo luận tội để tham gia phiên tòa.

     Đối với vụ án chỉ có một bị cáo, thực hiện hành vi phạm tội đơn giản thì Kiểm sát viên có thể chỉ tập trung vào việc công bố bản cáo trạng và tổng hợp các tình huống phát sinh tại phiên tòa bổ sung cho dự thảo luận tội còn hoạt động tranh tụng ít có chiều hướng phát sinh vì tính chất đơn giản của vụ án.

     Đối với vụ án phức tạp có nhiều bị cáo thì ngoài việc công bố cáo trạng, công bố luận tội thì Kiểm sát viên phải dự báo được những tình huống phát sinh tại phiên tòa như việc bị cáo chối tội, khai ra đồng phạm mới hay tội phạm mới và phải xây dựng được đề cương xét hỏi theo một trình tự trên cơ sở đã nghiên cứu, nắm vững các chứng cứ buộc tội, gỡ tội trong vụ án.

     Đối với vụ án có Luật sư tham gia để bào chữa cho bị cáo hoặc người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Kiểm sát viên phải dự báo những nội dung Luật sư có thể đưa ra tranh tụng để chủ động đối đáp tránh bị động, lúng túng tại phiên tòa.

     Trong khi tranh tụng: Theo quy định tại các điểm d, e Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì bị cáo, Luật sư có quyền đưa ra chứng cứ, trình bày ý kiến của mình về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thẩm tra, đánh giá, Kiểm sát viên phải có trách nhiệm đối đáp lại nội dung mà bị cáo, Luật sư đưa ra tại phiên tòa. Do đó, Kiểm sát viên phải tập trung lắng nghe và tổng hợp được nội dung thẩm vấn của Hội đồng xét xử và câu trả lời của bị cáo; kịp thời phát hiện những mâu thuẫn trong quá trình bị cáo khai báo cũng như những nội dung chưa được làm rõ tại phiên tòa. Bổ sung kịp thời các câu hỏi vào đề cương tranh tụng; câu hỏi của Kiểm sát viên phải ngắn gọn, dễ hiểu, đi vào trọng tâm, không hỏi lại các nội dung đã được làm rõ. Tóm lược, ghi chép những ý chính trong nội dung tranh tụng của Luật sư đưa ra để kịp thời có phương án đối đáp, trong đối đáp phải luôn bình tĩnh, ngắn, gọn, ngôn ngữ có tính pháp lý và dễ hiểu; giọng nói mạch lạc và có sức thuyết phục.

     Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, Kiểm sát viên phải dựa trên quy định của pháp luật hình sự, nhìn nhận, đánh giá, phân tích một cách có cơ sở pháp lý về những nội dung mà bị cáo, Luật sư đưa ra để kết luận vấn đề một cách toàn diện, đúng quy định của pháp luật./.

Dương Minh Hồng – Phòng 7, Viện KSND tỉnh Lạng Sơn



THÔNG BÁO

hỗ trợ & tư vấn

Văn phòng tổng hợp - Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin

Hotline: 02053.716.910

Bản đồ trung tâm

Lịch tiếp dân

bộ đếm truy cập


Đầu trang