VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Lạng Sơn 0 Lạng Sơn 1 Lạng Sơn 2 Lạng Sơn 5 Lạng Sơn 7

Hoạt động nghiệp vụ

Rút kinh nghiệm vụ án dân sự bị Tòa án phúc thẩm xử hủy án

Cập nhật: 07-04-2014 | Hoạt động nghiệp vụ | Lượt xem: 3116

     Trong quý I năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng sơn đã tham gia phiên tòa giải quyết 14 vụ án dân sự, trong đó có 02 do Viện kiểm sát kháng nghị hủy án được cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị.

     Để nâng cao chất lượng kiểm sát giải quyết án dân sự sơ thẩm cấp huyện, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn rút kinh nghiệm chung để thực hiện tốt hơn công tác kiểm sát bản án và nghiên cứu hồ sơ tham gia phiên tòa, kịp thời phát hiện vi phạm để thực hiện việc kháng nghị phúc thẩm theo quy định.

     Vụ thứ nhất: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất” cụ thể là diện tích 12.747 m2 thuộc một phần lô số 94, tờ bản đồ giao đất lâm nghiệp của xã Hoà Bình đo vẽ năm 1995, địa danh Pàn Đông Chang, thôn Trung Thượng, xã Hoà Bình, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn giữa nguyên đơn: Nông Văn I, Bị đơn: Nông Văn S, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Vy Thị Đ, ông Nông Văn M. Cùng trú tại địa chỉ: Thôn Trung Thượng, xã Hoà Bình, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.

     Trong quá trình giải quyết vụ kiện: phía nguyên đơn trình bày: diện tích đất nêu trên là do cha ông để lại, năm 1995 đã được cấp sổ bìa xanh mang tên bố là ông Nông Văn M. Ngày 10/6/2001 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ gia đình ông Nông Văn I. với diện tích 10ha, hằng năm gia đình anh canh tác quản lý, tu bổ, trồng cây hồi con và khai thác các cây gỗ tạp, hiện trên khu đất tranh chấp còn 11 cây hồi và các cây gỗ tạp. Nay gia đình anh Nông Văn S. tranh chấp đòi quyền quản lý. Anh yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được quản lý, sử dụng diện tích 12.747m2 đất tranh chấp và các cây trên đất.

     Theo trình bày của bị đơn thì khu đất tranh chấp có nguồn gốc do ông cha để lại, năm 1995 gia đình ông đã kê khai và được Nhà nước cấp sổ bìa xanh, ngày 10/6/2001 được UBND huyện Văn Quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nông Văn S. lô 94, địa danh Pàn Đông Chang, diện tích 3ha. Quá trình canh tác quản lý có các cây hồi già, sau bị chết hết, từ năm 1997 đến năm 2002 ông đã trồng thêm cây hồi, cây tre và các cây gỗ tạp trên đất. Nay anh I. yêu cầu được quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp 12.747 m2 cùng toàn bộ số cây trên đất ông không chấp nhận.

     Quá trình giải quyết vụ án Tòa án sơ thẩm tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đã xác định diện tích đất tranh chấp là 12.747m2 thuộc một phần lô số 94 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S, trên đất có các cây gỗ tạp, không có cây hồi.

     Tòa án nhân dân huyện Văn Quan đưa vụ án ra xét xử và quyết định: bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; giao cho bị đơn được quản lý, canh tác sử dụng diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số 0091 ngày 10/6/2001 do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp.  

     Trong thời hạn luật định nguyên đơn kháng cáo bản án trên của Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, yêu cầu cấp phúc thẩm xác minh làm rõ vị trí thửa đất của gia đình ông Nông Văn S. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn kháng theo hướng hủy bản án sơ thẩm. Cấp phúc thẩm đã xét xử hủy án để điều tra, xét xử lại.

     Những vấn đề cần rút kinh nghiệm: Quá trình giải quyết vụ án,Tòa án sơ thẩm đã có những vi phạm:

     1. Xác định không đầy đủ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0083/QSDĐ ngày 10/6/2001 của UBND huyện Văn Quan cấp cho hộ anh Nông Văn I, trong hộ gia đình anh I, ngoài bố mẹ còn có vợ anh I, nhưng khi giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ để đưa vợ anh I vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại khoản 4 điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự.

     2. Thu thập chứng cứ chưa đầy đủ: Theo sơ đồ diện tích đất lâm nghiệp trong sổ bìa xanh, biên bản xác định ranh giới mốc giới trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông I, hộ ông S và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì các phía tiếp giáp của diện tích đất tranh chấp không thống nhất, nhưng chưa được Tòa án sơ thẩm xác minh làm rõ, dẫn đến mâu thuẫn giữa biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày với phần quyết định của bản án sơ thẩm. Mặt khác, nguyên đơn yêu cầu được quản lý sử dụng đất tranh chấp và tài sản là các cây trên đất nhưng Tòa án sơ thẩm khi xem xét thẩm định, định giá tài sản chưa làm rõ số lượng cây, loại cây trên đất để tiến hành định giá làm căn cứ tính án phí.

     3. Giải quyết không hết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Trong đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung, nguyên đơn yêu cầu được quản lý sử dụng diện tích đất tranh chấp và tài sản trên đất là các cây gỗ tạp, nhưng tại bản án sơ thẩm Tòa án chỉ bác yêu cầu được quản lý sử dụng diện tích đất tranh chấp, mà chưa xem xét giải quyết đối với yêu cầu được quản lý tài sản là các cây trên đất là chưa đầy đủ.

      Vụ thứ hai: “Tranh chấp chia tài sản chung” giữa nguyên đơn:Bà Lương Thị Kh và bị đơn: Ông Lương Văn Kh.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
     1. Ông Lương A Ch.
     2. Bà Lương Thị S., chị Hoàng Thị S., anh Lương Văn B, chị Lương Thị B (Vợ, con ông Kh)
     3. Bà Lương Thị Nh, ông Lương V., bà Lương Thị Th., ông Lương Văn G, ông Lương Văn T.

     Tóm tắt nội dung vụ kiện: Ông Lương Dụ Ph. Và bà Hoàng Thị Ch sinh được ba người con là ông Lương Văn Kh., bà Lương Thị Kh. và ông Lương A Ch. Năm 1954, ông Ph. vào Nam và lấy vợ hai sinh được 6 người con là Lương Thị Nh. Lương Văn L. Lương Thị Th. Lương Thị L. (đã chết), Lương Văn G., Lương Văn T. Năm 1987 ông Ph chết; năm 1993 bà Ch chết để lại toàn bộ đất đai, nhà ở không có di chúc.

     Theo trình bày của nguyên đơn thì sau khi bà Ch chết để lại: 01 nhà ở và diện tích 92,1m2 đất thuộc thửa số 12, 13 tại tổ 2, khối 10, thị trấn Cao Lộc; đất ở, vườn tại tổ 1, khối 10, thị trấn Cao Lộc diện tích 1.605,3m2; đất ruộng Pò Hai thuộc khu đô thị Phú Lộc 4 khoảng 4000m2 (Năm 2007 Nhà nước đã thu hồi và bồi thường cho ông Khầu số tiền 399.885.750đ); ruộng Pác Phai 02 thửa gồm thửa số 111 diện tích 54,8m2, thửa số 121 diện tích 356,8m2; Vườn Phai Slâu gồm thửa số 41 diện tích 820,7m2, thửa số 05 diện tích 177,9m2; Vườn Miếu có 01 thửa số 82 diện tích 85,1m2; Ruộng Nà Luồm (Nà Kéo) có 04 thửa gồm thửa số 59 diện tích 1133,2m2, thửa số 67 diện tích 959,9m2, thửa số 71 diện tích 149,3m2, thửa số 77 diện tích 920,4m2, thửa số 73 diện tích 122,9m2. Số ruộng trên ông Khầu đang quản lý, sử dụng và ông Kh đã kê khai, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất một số thửa.

     Khi mẹ bà ( bà Ch) còn sống có chia cho bà đất và nhà ở tại tổ 2, khối 10, thị trấn Cao Lộc và 03 thửa 81, 89, 90 đất ruộng tại Cốc Sâu, bà đã canh tác từ năm 1984. Năm 2006 ông Kh đuổi mẹ con bà ra khỏi nhà và thu lại đất ruộng để cho con trai, con dâu ông Kh canh tác. Năm 2009 bà có đơn gửi UBND thị trấn Cao Lộc và năm 2010 có đơn khởi kiên yêu cầu Tòa án giải quyết, cho bà được sử dụng thửa đất số 13 diện tích 69,5m2 tại tổ 2, thị trấn Cao Lộc; 500m2 đất thuộc thửa số 15 tại tổ 1, thị trấn Cao Lộc và số tiền 100.000.000đ.

     Theo trình bày của bị đơn: Bố mẹ chết không để lại di chúc và có để lại tài sản là nhà đất, gồm: đất, nhà ở tại tổ 2, khối 10, thị trấn Cao Lộc; Ruộng Cốc Sâu; đất ruộng Pò Hai thuộc khu đô thị Phú Lộc 4 (Nhà nước đã thu hồi và bồi thường số tiền 399.885.750đ); ruộng Pác Phai; Vườn Miếu; Ruộng Nà Luồm (Nà Kéo) với diện tích như trên. Còn mảnh đất tại tổ 1, khối 10, thị trấn Cao Lộc diện tích 1.605,3m2 do ông tự khai phá từ năm 1957, năm 1973 ông làm nhà trên đất và ở đến nay; Đất vườn Phai Sâu diện tích 998,6m2 cũng do ông tự khai phá. Toàn bộ tài sản do ông trực tiếp canh tác quản lý sử dụng từ trước đến nay không có tranh chấp.

     Năm 1988 thấy mẹ con bà Kh khó khăn nên ông cho bà Khi ở nhờ tại nhà ở Tổ 2, thị trấn Cao Lộc, ông đã mua vật liệu về sửa chữa nhà cho bà Kh và cho canh tác 02 thửa ruộng đồng Cốc Sâu. Sau đó bà Kh không canh tác nên ông đã thu về để con trai, con dâu ông canh tác. Ông không nhất trí chia tài sản như bà Kh yêu cầu và ông yêu cầu được quản lý, sử dụng toàn bộ nhà, đất nêu trên.

     Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

     - Ông Lương A Ch trình bày: Sau khi mẹ ông chết có để lại tài sản như bà Kh, ông Kh trình bày, nhưng không để lại di chúc và anh em cũng chưa họp gia đình lần nào để chia tài sản. Nay ông yêu cầu được chia 1/3 tài sản do mẹ để lại và số tiền 150.000.000đ do Nhà nước đền bù đất tại khu Phú Lộc 4.

     - Bà Lương Thị Nh, ông Lương Văn L, bà Lương Thị Th, ông Lương Văn G , ông Lương Văn T trình bày: Các ông bà không yêu cầu chia tài sản chung của bố là ông Lương Dụ Ph để lại tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và xác định ông Phầy đã chết năm 1987.

     - Bà Lương Thị S, chị Hoàng Thị S, anh Lương Văn B, chị Lương Thị Bnhất trí như lời trình bày của ông Kh.

     Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử và quyết định:

     - Bà Kh được sở hữu 01 nhà và bếp trên diện tích 69,5m2 đất thuộc thửa số 13, tờ bản đồ 59 và tạm giao quyền sử dụng thửa đất số 13, tờ bản đồ 59, diện tích 69,5m2 cho bà Kh.

     - Ông Kh được canh tác, sử dụng số ruộng Pác Phai gồm thửa số 111 diện tích 54,8m2, thửa số 121 diện tích 356,8m2; Vườn Phai Slâu gồm thửa số 41 diện tích 820,7m2, thửa số 15 diện tích 1605,3m2; Vườn Miếu có 01 thửa số 82 diện tích 85,1m2; Ruộng Nà Luồm (Nà Kéo) gồm thửa số 59 diện tích 1133,2m2, thửa số 67 diện tích 959,9m2, thửa số 71 diện tích 149,3m2, thửa số 77 diện tích 920,4m2, thửa số 73 diện tích 122,9m2 và số tiền 399.885.750đ được Nhà nước bồi thường diện tích đất ruộng Pò Hai.

     - Không chấp nhận yêu cầu của bà Kh được sử dụng 500m2 đất tại thửa số 15, tờ bản đồ số 55 và 100.000.000đ trong số tiền ông Khầu được bồi thường.

     - Không chấp nhận yêu cầu của ông Ch được sở hữu 1/3 các thửa đất mà ông Kh đang quản lý, sử dụng và 150.000.000đ trong số tiền ông Kh được bồi thường.

     - Không chấp nhận yêu cầu của ông Ch được sở hữu 1/3 các thửa đất mà ông Kh đang quản lý, sử dụng và 150.000.000đ trong số tiền ông Kh được bồi thường.

     Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

     Bản án sơ thẩm căn cứ vào Nghị quyết số 02/NQ- HĐTP- TANDTC ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã xác định tài sản chung để chia nhà, đất thuộc thửa số 13, diện tích 69,5m2 tại tổ 2, khối 10, thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc và chia cho bà Kh được sở hữu nhà, đất tại thửa số 13, đồng thời có trách nhiệm thanh toán cho ông Kh, ông Ch mỗi người 10.567.520đ giá trị tài sản mà các ông được hưởng.

     Còn số ruộng thuộc các thửa đất còn lại và số tiền đền bù 399.885.750đ không phải là di sản cũng không được xác định là tài sản chung chưa chia, nên không chấp nhận yêu cầu chia phần tài sản này của bà Kh, ông Ch là có căn cứ.

     Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã có một số vi phạm như sau:

     1. Xác định không đầy đủ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án

     Nguyên đơn bà Lương Thị Kh và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lương A Ch yêu cầu chia tài sản chung là diện tích 1.605,3m2 thuộc thửa số 15, tờ bản đồ số 55, diện tích đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lương Văn Kh ngày 04/8/2003 và tại phần những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận có ghi:

     “Ngày 24/9/2010 đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Đ 140m2 đất HNK theo hồ sơ số 276 ngày 19/8/2010”;

     “Ngày 13/6/2011 đã chuyển nhượng 119m2 đất ODT cho ông Nguyễn Văn Kh theo hồ sơ số 673 ngày 28/4/2011”.

     Tại biên bản lấy lời khai ngày 19, ngày 25/12/2013 và tại phiên tòa phúc thẩm ông Khầu khẳng định thửa đất số 15, diện tích 1.605,3m2 ông đã bán cho hộ bà Đ 140m2; hộ ông Nguyễn văn Kh 119m2 và ông Kh đã bán bớt một phần cho vợ chồng ông Vũ Văn T và bà Hoàng Thị S, vợ chồng ông T đã xây nhà trên phần đất này, nhưng Tòa án sơ thẩm chưa xác minh, làm rõ để đưa bà Đ, ông Kh, vợ chồng ông T vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là vi phạm khoản 4 điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự.

     Đồng thời phần quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên giao cho ông Kh được canh tác sử dụng thửa số 15, diện tích 1.605,3m2 là không chính xác, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà Đ, ông Kh và vợ chồng ông T.

     2. Chưa giải quyết hết yêu cầu của đương sự

     Trong tổng số các thửa đất tranh chấp có thửa số 50 tờ bản đồ 54 diện tích 177,9m2 các đương sự đều thừa nhận diện tích đất này Ủy ban nhân dân huyện Cao Lộc đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Kh, nhưng cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ để làm rõ và không xem xét giải quyết diện tích đất này là chưa giải quyết hết yêu cầu của đương sự.

     3. Vi phạm về thẩm quyền thụ lý 

     Các thửa đất tranh chấp số 12, 81, 89, 90 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không có một trong những giấy tờ quy định tại điều 50 Luật đất đai, không có tranh chấp về tài sản trên đất nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết đối với các thửa đất trên. Tuy nhiên, lý do đình chỉ cấp sơ thẩm nhận định là "do nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện" là chưa chính xác.

     Mặt khác, tuy đã nhận định đình chỉ giải quyết đối với các thửa đất số 12, 81, 89, 90, nhưng phần quyết định của bản án sơ thẩm vẫn tuyên không chấp nhận yêu cầu của ông Chằn được sở hữu 1/3 các thửa đất mà ông Kh đang quản lý sử dụng là mâu thuẫn.

     4. Về việc thông báo sửa chữa, bổ sung bản án

     Tại thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 1659/2013/TB-TA ngày 13/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc đã bổ sung phần quyết định của bản án sơ thẩm hai nội dung mà tại phần quyết định của bản án sơ thẩm chưa quyết định, như vậy là không đúng với quy định tại Khoản 1 Điều 240 Bộ luật tố tụng dân sự về việc sửa chữa bổ sung bản án, chỉ được sửa chữa về lỗi chính tả hoặc do nhầm lẫn số liệu, tính toán sai.

     Với những vi phạm nêu trên bản án Tòa án cấp phúc thẩm đã xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

     Quá trình kiểm sát giải quyết cả hai vụ án nêu trên, Viện kiểm sát huyện đã phân công kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ và tham gia phiên tòa nhưng không phát hiện được vi phạm, cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

 

Hồ Ngọc Bích – Trưởng phòng 5



THÔNG BÁO

hỗ trợ & tư vấn

Văn phòng tổng hợp

Hotline: 02053.716.910

Bản đồ trung tâm

Lịch tiếp dân

bộ đếm truy cập


Đầu trang