VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Lạng Sơn 0 Lạng Sơn 1 Lạng Sơn 2 Lạng Sơn 5 Lạng Sơn 7

Các bài báo

Văn phòng Chủ tịch nước: Họp báo công bố 16 đạo luật và 07 Nghị quyết

Cập nhật: 21-12-2015 | Các bài báo | Lượt xem: 12525

(Kiểm sát) - Ngày 18/12/2015, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về việc công bố 16 đạo luật và 07 Nghị quyết được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua, gồm: Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự (cùng có hiệu thi hành kể từ ngày 01/7/2016); Bộ luật Dân sự (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017); Bộ luật Tố tụng dân sự (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016, trừ một số quy định của Bộ luật này có liên quan đến quy định của Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 thì có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017); Luật Tố tụng hành chính (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016, trừ các quy định có liên quan đến người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; liên quan đến pháp nhân là người đại diện, người giám hộ; quy định liên quan đến hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có tư cách pháp nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH 13 thì có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017); Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016); Luật thi hành tạm giữ, tạm giam (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016); Luật trưng cầu ý dân; Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; Luật an toàn an ninh mạng; Luật quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng; Luật khí tượng thủy văn; Luật thống kê (cùng có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016); Luật Kế toán; Luật phí và lệ phí (cùng có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017); Bộ luật hàng hải (có hiệu lực từ ngày 01/7/2017).

Bảy nghị quyết được công bố, gồm: Nghị quyết số 107/2015/ QH13 về thực hiện chế định thừa phát lại; Nghị quyết số 110/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 103/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết ban hành nội quy kỳ họp Quốc hội (có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2016); Nghị quyết về việc phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại thế giới. Sau đây, Trang tin điện tử Kiểm sát online xin giới thiệu những nội dung chính của một số đạo luật.

 

Đồng chí Giang Sơn, Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Chủ tịch nước công bố Lệnh của Chủ tịch nước

1. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có kết cấu gồm 9 phần, 36 chương, 510 điều, với nhiều nội dung mới cơ bản.

Nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Bộ luật đã sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự để bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013, gồm công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho Nhà nước khác (Điều 11), suy đoán vô tội (Điều 13), không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm (Điều 14), tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26), bảo đảm sự kiểm tra, giám sát trong hệ thống từng cơ quan tiến hành tố tụng và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 33).

 

Tiến sĩ Nguyễn Hải Phong, Phó Viện trưởng Thường trực VKSND tối cao giới thiệu Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật

Thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và quy định của Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tính minh bạch, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát hoạt động tố tụng tư pháp, Bộ luật quy định: 1. Bắt buộc phải ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; 2. quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo trước cho người bào chữa thời gian và địa điểm tiến hành các hoạt động tố tụng để họ tham dự; 3. bổ sung các quy định để Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp; bắt buộc Kiểm sát viên phải hỏi cung khi bị can kêu oan hoặc khi phát hiện hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng; 4. quy định trách nhiệm của cơ quan tố tụng cấp trên phải kiểm tra hoạt động tố tụng của cơ quan cấp dưới; 5. bổ sung cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan tố tụng.

Điểm mới đáng chú ý là Bộ luật bổ sung một chương mới quy định về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; theo đó: Quy định chặt chẽ những trường hợp được phép áp dụng, thời hạn áp dụng biện pháp điều tra đặc biệt; 2. quy định việc áp dụng biện pháp điều tra đặc biệt phải do Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên quyết định và phải được Viện trưởng Viện kiểm sát; 3. khẳng định những thông tin, tài liệu thu thập từ việc áp dụng biện pháp điều tra đặc biệt có thể dùng làm chứng cứ để giải quyết vụ án nhưng không được sử dụng vào mục đích khác.

2. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định trách nhiệm hình sự của các pháp nhân thương mại tại các Điều 2, 6, 8, 33, các điều từ 74 đến Điều 89; đồng thời xác định cụ thể điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại và quy định 31 tội phạm thuần túy là các tội phạm trong lĩnh vực kinh tế và môi trường mà pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 76).

Trên cở sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình và tình hình phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong thời gian tới, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định về hình phạt tử hình: Bãi bỏ hình phạt tử hình đối với 07 tội, trong đó có 04 tội là bỏ hoàn toàn (Tội cướp tài sản, tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia, tội chống mệnh lệnh, tội đầu hàng địch); bổ sung đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình là người từ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thay thế tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng bằng 9 tội danh mới thuộc các lĩnh vực: Quản lý cạnh tranh, đầu tư công; quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp; đấu thầu; đấu giá tài sản; kế toán; quản lý thuế; xây dựng; bồi thường thu hồi đất.

3. Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015 (gọi tắt là Bộ luật Dân sự năm 2015) có 689 điều, được bố cục thành 6 phần, 27 chương với những nội dung mới chủ yếu như sửa đổi, bổ sung nhiều quy định để đáp ứng yêu cầu về xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và hội nhập quốc tế; hoàn thiện các chế định về năng lực hành vi dân sự, giám hộ và đại diện để bảo vệ tốt hơn quyền dân sự của người chưa thành niên; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người mất năng lực hành vi dân sự, qua đó giúp họ được bình đẳng với chủ thể khác trong quan hệ dân sự...

Bộ luật sửa đổi, bổ sung nhiều quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 để cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về xây dựng, hoàn thiện hơn các cơ chế pháp lý công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự. Theo đó, Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự với lý do chưa có điều luật để áp dụng. Trường hợp này, Tòa án có thể áp dụng thời hiệu khi giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp một bên hoặc các bên quan hệ dân sự có yêu cầu...

4. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có 517 điều, được bố cục thành 10 phần, 42 chương. Đây là một trong những đạo luật quan trọng về hoạt động tố tụng theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân nhằm xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc; là cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng dân sự của Tòa án nhân dân, bảo đảm Tòa án thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

5. Luật trưng cầu ý dân được bố cục thành 08 chương với 52 điều, với những nội dung quan trọng như sau:

Về thuật ngữ "trưng cầu ý dân": Khoản 1 Điều 3 của Luật giải thích rõ: Trưng cầu ý dân là việc Nhà nước tổ chức để cử tri cả nước trực tiếp biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu  quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo quy định của Luật này"; đã cho thấy sự khác biệt cơ bản giữa "trưng cầu ý dân" và "lấy ý kiến nhân dân". Theo đó, tuy cùng một hình thức để nhân dân phát huy quyền dân chủ, thể hiện ý kiến của người dân với nhà nước, nhưng với "trưng cầu ý dân" thì vấn đề đưa ra trưng cầu là những vấn đề quan trọng của đất nước, có phạm vi ảnh hưởng toàn quốc và phải do Quốc hội quyết định; còn "lấy ý kiến nhân dân" thì chỉ ở phạm vi, mức độ khác nhau; "trưng cầu ý dân" thì phải thông qua hình thức là bỏ phiếu kín, "lấy ý kiến nhân dân" thì hình thức để người dân thể hiện ý chí thường linh hoạt hơn. Xét về giá trị pháp lý thì "trưng cầu ý dân" có giá trị quyết định đối với các quyết định được đưa ra trưng cầu, còn kết quả lấy ý kiến nhân dân là cơ sở để cơ quan, tổ chức tham khảo, tiếp thu; đối tượng của trưng cầu là các cử tri. Tuy nhiên, việc ban hành Luật trưng cầu ý dân không hạn chế việc Nhà nước tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với những vấn đề đã được quy định trong Hiến pháp và pháp luật.

Về người có quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân: Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên tính đến ngày trưng cầu ý dân, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 25 của Luật này.

Về các vấn đề trưng cầu ý dân (Điều 6): Luật quy định Quốc hội xem xét, quyết định trưng cầu ý dân về các vấn đề sau đây: Toàn văn Hiến pháp hoặc một số nội dung quan trọng của Hiến pháp; vấn đề đặc biệt quan trọng về chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của quốc gia; vấn đề đặc biệt quan trọng về kinh tế-xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước; vấn đề đặc biệt quan trọng khác của đất nước.

 

Về phạm vi tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 7): Trưng cầu ý dân được thực hiện trong phạm vi cả nước../.



THÔNG BÁO

hỗ trợ & tư vấn

Văn phòng tổng hợp - Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin

Hotline: 02053.716.910

Bản đồ trung tâm

Lịch tiếp dân

bộ đếm truy cập


Đầu trang